Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) Tháng Mười Nga năm 1917 đã đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội
(CNXH) hiện thực trên thế giới. Từ một nước, CNXH hiện thực đã phát triển thành
một hệ thống, với những thành tựu to lớn và tính ưu việt nổi bật. Tuy nhiên, sự
sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập kỷ cuối thế kỷ XX đã làm cho
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào giai đoạn khủng hoảng, tạm
thời thoái trào.
Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản
động và chủ nghĩa cơ hội – xét lại ra sức công kích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác –
Lênin, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và
cho rằng: “Đi theo chủ nghĩa tư bản, Việt Nam mới giàu có và phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại hiện nay”. Để đấu tranh vạch trần bản chất phản động,
sự thiển cận về chính trị, lý luận của quan điểm trên, cần phải nắm vững những
vấn đề có tính nguyên tắc dưới đây:
Vấn đề thứ nhất, một mặt, cần có sự
đánh giá khách quan về vai trò to lớn của chủ nghĩa tư bản (CNTB) trong lịch sử
khi đã thực hiện được những bước nhảy chưa từng có về lực lượng sản xuất. Ngay
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ:
“Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã
tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của
tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”(1). Ngày nay, do sử dụng có hiệu quả các
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự phát triển của
lực lượng sản xuất đã làm cho của cải trong xã hội có sự gia tăng nhanh chóng.
Mặt khác, cần phải thấy rằng, CNTB vẫn được xây dựng trên nền tảng chế độ chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên sự giàu có đó luôn thuộc về thiểu số giai
cấp tư sản thống trị, bóc lột, đại đa số công nhân, nhân dân lao động luôn bị
đẩy vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói và ngày càng bần cùng hóa. Nhiều ông chủ tư
sản đang nắm giữ khối tài sản vài chục tỷ đô la – nhiều hơn tài sản của một
quốc gia nghèo. Theo báo cáo mới nhất của tổ chức Oxfam International (Liên
minh quốc tế của 17 tổ chức làm việc tại 94 quốc gia trên toàn thế giới để tìm
giải pháp lâu dài cho nghèo đói và bất công), trong danh sách 50 người giàu
nhất thế giới, có 29 người đến từ Hoa Kỳ. Ước tính 1% người giàu nhất thế giới hiện
đang nắm giữ số tài sản nhiều hơn 99% số người còn lại. Tại Mỹ, nhóm 1% này
cũng đang kiểm soát 42% tài sản trong nước.
Việc nhiều công nhân và người lao động ở các
nước tư bản hiện nay đang sở hữu một lượng cổ phần, cổ phiếu nhất định và có
cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ không phải do sự hảo tâm của giai cấp tư
sản, càng không phải CNTB đã thay đổi về bản chất như nhiều người lầm tưởng, mà
đó là sự điều chỉnh, thích nghi của CNTB để kéo dài sự tồn tại và phát triển.
Hiện nay, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng ở các nước tư bản và giữa
các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển. Hậu quả của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại và các chính sách tư nhân hóa, bãi bỏ hoặc cắt
giảm phúc lợi xã hội,… đang đẩy hàng triệu người lao động lâm vào cảnh mất việc
làm. Ở Mỹ – đất nước được xem là giàu có nhất thế giới hiện nay cũng có tới 10%
người thất nghiệp và 12% người dân sống trong cảnh nghèo đói.
Bên cạnh đó, sự tranh giành quyền lực giữa các
thế lực đế quốc nhằm kiểm soát nguồn tài nguyên để thu lợi nhuận ngày càng cao
dẫn đến các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang và nảy sinh các tệ nạn xã hội.
Vũ khí hạt nhân được sản xuất hàng loạt và đang nằm trong tay giai cấp tư sản
luôn thường trực nguy cơ hủy diệt sự sống trên trái đất. Trong CNTB, mọi thứ
đều trở thành hàng hóa và bị quy thành tiền bạc, chủ nghĩa cá nhân, thói ích
kỷ, sự tham lam và lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền, làm yếu đi các quan hệ
cơ bản giữa con người với con người trong gia đình và xã hội. Chủ nghĩa tư bản
còn là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm môi trường, phá vỡ sự cân bằng của tự
nhiên và đe dọa đến sự sống của hàng tỉ người trên hành tinh này.
Như vậy, cùng với những quan điểm khoa học của
chủ nghĩa Mác – Lênin và bằng chính thực tiễn sự vận động, phát triển của CNTB
trong những thập kỷ qua đã giúp chúng ta nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn
diện, sâu sắc hơn về bản chất của chế độ xã hội và nguồn của cải khổng lồ trong
xã hội tư bản. Điều đó cho thấy, đi theo con đường CNTB, Việt Nam không thể có
được sự giàu có và nền độc lập, tư do thực sự cho mọi người dân trong xã hội.
Vấn đề thứ hai, đưa đất nước đi
theo CNTB cũng không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại do cuộc
Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 đã mang lại – thời đại quá độ từ CNTB
lên CNXH và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Do vậy, nếu chỉ coi
sự sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bằng chứng để thừa
nhận thời đại hiện nay là của CNTB thì đó là một cách nhìn thiển cận, thiếu
kiến thức lịch sử và khoa học về thời đại. Vì quá trình ra đời, phát triển và
thay thế thời đại này bằng một thời đại khác phải trải qua một chặng đường lâu
dài, quanh co, phức tạp, chứa đựng cả bước tiến mạnh mẽ và cả sự tụt lùi, đổ
vỡ.
Hiện nay, CNXH hiện thực mặc dù đang gặp nhiều
khó khăn, nhưng xu thế phát triển tất yếu của thời đại từ CNTB lên CNXH vẫn
luôn tỏ rõ trong thực tế. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại ở một số nước
và khẳng định sức sống mãnh liệt, triển vọng phát triển. Những tư tưởng về một
xã hội công bằng, bình đẳng vẫn tiếp tục thẩm thấu trong nhận thức và biến
thành hành động cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế
giới. Các định hướng về giải phóng lực lượng sản xuất, xóa bỏ áp bức, bóc lột,
bất công, sự phân hóa giàu nghèo,… để hướng tới một xã hội văn minh, giàu mạnh
vẫn là những giá trị cơ bản, phù hợp với tình cảm, nguyện vọng và lợi ích của
đại đa số nhân dân lao động. Đảng ta đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội trên thế
giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức
tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo
quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã
hội”(5). Những nguyên nhân, kinh nghiệm rút ra từ thất bại và cuộc khủng hoảng
trong nửa cuối thế kỷ qua sẽ là bài học quý báu để CNXH hiện thực tiếp tục cải
cách, đổi mới và phát triển ngày càng mạnh mẽ, vững chắc hơn.
Để không rơi vào trạng thái mơ hồ, bếp bênh về
tư tưởng, lý luận và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm phản động, sai
trái của các thế lực thù địch về những vấn đề trên, cần phải nắm vững một số
nội dung cơ bản sau:
Một là, phải luôn nắm vững quan điểm cách mạng, khoa học của chủ
nghĩa Mác – Lênin về lý luận hình thái kinh tế – xã hội.
Trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã đưa ra những luận điểm khoa học: “Tôi coi sự phát triển của
những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”(3). C.Mác
đã chỉ ra những quy luật khách quan, quy định sự vận động, phát triển của xã
hội loài người đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất; cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng
tầng và biểu hiện về mặt xã hội là quy luật đấu tranh giữa các giai cấp. Lý
luận hình thái kinh tế – xã hội còn là cơ sở khoa học nhất để phân chia thời
đại. Thực tiễn sự phát triển của loài người từ trước đến nay đã chứng minh học
thuyết hình thái kinh tế – xã hội của C.Mác là đúng đắn, cách mạng và khoa học
nhất. Bởi vậy, ngay trước thềm thế kỷ XXI, C.Mác đã được khán giả truyền hình
BBC của Anh bầu chọn là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại trong 1000 năm
qua.
Vận dụng quy luật lịch sử vào nghiên cứu xã hội
tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ quá trình ra đời, phát triển và tất yếu
diệt vong của CNTB. “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô
sản đều là tất yếu như nhau”(2). Song, cần phải hiểu rằng, quy luật xã hội được
thực hiện thông qua hành động tự giác của con người. Do vậy, sự sụp đổ của giai
cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản sớm hay muộn, phạm vi rộng hay hẹp
còn phụ thuộc vào sự chín muồi của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan, trước hết là vai trò của các Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân trên thế
giới.
Hai là, tiếp tục khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn
duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã giải quyết vấn đề
này, cách nay gần tròn một thế kỷ, khi đứng trước cuộc khủng hoảng, bế tắc về
đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc, Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã ra
đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Người đã tìm thấy con
đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn là con đường cách mạng vô sản. Sau
đó đã trở thành sự lựa chọn của toàn thể dân tộc khi mọi người dân Việt Nam
được giác ngộ đã đoàn kết lại, tự nguyện đi theo Đảng để đấu tranh giành được
độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước phát triển theo con đường XHCN.
Là một dân tộc từng phải chịu đựng bao nỗi khổ
đau, mất mát mà chủ nghĩa đế quốc gây ra, vì vậy nguyện vọng của nhân dân ta
không bao giờ chấp nhận đi theo con đường CNTB. Hơn nữa, chủ nghĩa Mác – Lênin
đã chỉ ra, trong thời đại ngày nay, sự phát triển của đất nước không nhất thiết
phải diễn ra một cách tuần tự, mà nó còn chứa đựng cả loại hình quá độ từ những
nước chậm phát triển có thể bỏ qua chế độ TBCN để tiến thẳng lên CNXH. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (2011), Đảng
ta đã khẳng định: ”Đi lên chủ nghĩa xã hội
là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù
hợp với xu thế phát triển của lịch
sử”(4).
Ba là, những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN đã khẳng định con đường đi lên CNXH là hoàn toàn đúng đắn.
Việc giành độc lập, tự do cho dân tộc và xây
dựng một nước Việt Nam theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” luôn là khát vọng và hành động cách mạng của mọi
người dân Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua. Kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo
cách mạng đến nay, những khát vọng ấy đã từng bước được hiện thực hóa trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thực
tiễn đó chính là minh chứng thuyết phục nhất để khẳng định “con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế
phát triển của lịch sử”(6).
Tuy nhiên, với thái độ khách quan, chúng ta cũng
phải thừa nhận rằng, hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng,
hối lộ, làm giàu bất chính, thu vén cho gia đình, dòng họ, địa phương,… Trong
khi đó, đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng
sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nếu không khắc phục kịp thời,
triệt để các vấn đề đó thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cách nhìn lệch lạc, tiêu
cực, thiếu thiện chí về con đường đi lên CNXH của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã
hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của
hàng chục triệu người”(7). Xây dựng CNXH là sự nghiệp mới mẻ, lâu dài, khó khăn
và phức tạp, nhất là với một đất nước có điểm xuất phát thấp, phải chịu hậu quả
nặng nề của nhiều cuộc chiến tranh và sự chống phá quyết liệt của các thế lực
thù địch. Do vậy, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vừa làm, vừa phải học
hỏi, tăng cường tổng kết thực tiễn, tích cực nghiên cứu, phát triển lý luận để
có được cách nhìn đầy đủ và rõ hơn về CNXH. Trên cơ sở đó, xác định hình thức,
bước đi và cách làm sát với thực tiễn cách mạng Việt Nam; đồng thời, kiên quyết
đấu tranh khắc phục mọi trở lực, nhất là những nhận thức lệch lạc, tiêu cực và
hành động chống phá của các thế lực thù địch, đưa đất nước phát triển vững chắc
trên con đường XHCN./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, tr. 603, 613.
(3). C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, tr. 21.
(4) (5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 24, 64 – 65.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn
phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 66.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập
11, Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr. 93.
Tác giả: TS Vũ Đình Đắc, Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh – Trường Đại
học Chính trị.
Nhận xét
Đăng nhận xét