CẢNH GIÁC ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU
XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ DÂN CHỦ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Gần đây, các thế lực thù địch liên tục đưa ra
các luận điệu xuyên tạc tính chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Chúng cho rằng, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản độc quyền kiểm soát,
sự độc đảng kéo theo nhiều thứ độc tài, độc đoán, chuyên quyền; rằng, trên nền
độc tài đó, xã hội Việt Nam đương đại không có tự do dân chủ, Chính phủ Việt
Nam ngăn cấm tự do thông tin, tự do hội họp, tự do báo chí, tôn giáo (!). Thông
qua những luận điệu xuyên tạc trắng trợn này chúng muốn tạo sự đối lập giữa
Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chia rẽ
Nhà nước với các tổ chức chính trị, xã hội trong hệ thống chính trị đất nước;
chia rẽ Nhà nước với nhân dân.
1. Cần thấy rằng, hiện nay trên thế giới có
nhiều mô hình nhà nước. Nhà nước dân chủ nhân dân, ở đó, quyền lực thuộc về
nhân dân mà quốc hội là người đại diện. Nhà nước quân chủ nghị viện, ở đó, nhà
vua là người đứng đầu quốc gia nhưng không nắm thực quyền. Nhà nước cộng hoà
tổng thống, ở đó, tổng thống là nguyên thủ quốc gia, có quyền lực rất lớn không
chỉ về hành pháp mà cả về lập pháp và tư pháp… Như vậy, dân chủ được thực hiện
thông qua nhiều mô hình nhà nước. Do vậy, việc lấy một mô hình nhà nước
nào đó để làm căn cứ phê phán có dân chủ hay không dân chủ là khiên cưỡng, áp
đặt phi lý. Mặt khác, hiện tại mô hình một đảng lãnh đạo nhà nước
không phải chỉ có ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn có ở các quốc
gia dân tộc không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa như Êritơria, Ghi nê,
Mônacô.
Thực tiễn lịch sử và toàn cảnh thế giới
đương đại cho thấy, không thể lấy tiêu chí một đảng cầm quyền hay đa đảng là cơ
sở, và càng không thể là cơ sở duy nhất để xem xét chất lượng nền dân chủ của
một quốc gia, dân tộc. Ngay trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa cũng có
những mô hình nhà nước khác nhau. Một số nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật,…tổ
chức hệ thống chính trị theo hình thức đa đảng; thường là hai đảng trở lên có
cơ hội trở thành đảng cầm quyền hoặc tham gia vào liên minh cầm quyền. Song,
trong thực tế, hệ thống chính trị và các nhân vật cầm quyền nhà nước đều do một
tập đoàn chính trị đầu sỏ và các tổ chức kinh tế tư bản thao túng; các tổ chức
này có liên quan mật thiết với nhau về chính trị, kinh tế; cùng chi phối chính
sách phát triển đất nước theo hướng mở rộng ảnh hưởng, củng cố sức mạnh, quyền
lực và rốt cục phục vụ cho lợi ích của họ. Dù rằng ở nhiều nước tư bản hiện
nay, do áp lực đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản buộc phải điều
chỉnh, cải cách dân chủ ở những mức độ nhất định. Họ buộc phải công
nhận các lực lượng đối lập, kể cả các đảng cộng sản; song về bản chất, chế độ dân chủ đó vẫn là dân chủ tư sản bảo vệ lợi
ích của giai cấp tư sản.
Bám lấy một số hiện tượng được coi như “thành
tựu” của cải cách dân chủ, các lý luận gia tư sản không ngớt ca ngợi chế độ tam
quyền phân lập ở Mỹ, coi đó là nền dân chủ hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chúng ta thấy
rằng, trong thực tế ở Mỹ có nhiều đảng chính trị, nhưng rốt cục quyền lực chỉ
thuộc về hai đảng – Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà thay nhau cầm quyền. Cả hai
đảng này đều là đại diện cho những tập đoàn tư sản Mỹ, họ vừa tranh giành, vừa
thoả hiệp để cùng nhau thực hiện dân chủ cho giai cấp tư sản, vì giai cấp tư
sản Mỹ. Ở họ có sự thống nhất cao trong xác định và góp phần thiết lập, củng cố
những mục tiêu chiến lược của nước Mỹ: thứ nhất, nước Mỹ
phải có được quyền lực để giữ gìn an ninh của mình; thứ hai, nước Mỹ phải đủ sức thiết lập và lãnh đạo trật
tự thế giới; thứ ba, đem lại sự phồn vinh cho
nước Mỹ theo nguyên tắc tư bản chủ nghĩa và thứ tư, áp đặt các
giá trị tự do, dân chủ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho toàn thế giới (1). Thực tế
này góp thêm một minh chứng, chế độ một đảng hay đa đảng chỉ là hình thức trực
tiếp của thực hành dân chủ. Ở các nước phương Tây, tuy thực hiện chế độ đa
đảng, nhưng chỉ có đảng nào chấp nhận con đường tư bản chủ nghĩa, có đủ uy lực
đại diện và mang lại lợi ích cho những tập đoàn tư sản hay giới tài phiệt thì
mới có cơ hội cầm quyền. Như vậy, đa đảng đua tranh ảnh hưởng,
quyền lực chỉ là hình thức; bảo đảm sự độc tôn thống trị xã hội và lợi ích của
giai cấp tư sản mới là nội dung cốt tử không bao giờ thay đổi ở các quốc gia tư
bản chủ nghĩa.
Xem xét một quốc gia dân tộc nào đó có dân chủ
hay không dân chủ, suy cho cùng, vấn đề cốt tử nhất là xem nhà nước đó có thực
sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân hay không; hệ thống pháp luật của nhà
nước đó có bảo đảm thực thi quyền lực chính trị của nhân dân hay không? Lý luận
Mác – Lênin và thực tiễn lịch sử đã minh chứng, dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự
phát triển về chất so với các hình thức, chế độ dân chủ trước đó. Vì nền dân
chủ này nhằm tiến tới giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con
người. Dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự thể hiện quyền con người của
cá nhân và cộng đồng ở mức cao nhất.
2. Ở Việt Nam, sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, đó là một nhà nước dân chủ, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã thay thế nhà nước thuộc địa phong kiến. Nhà
nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, do nhân dân bầu thông qua bầu cử
tự do; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục
đích hoạt động.
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm: nếu trong
bầu trời không có gì quý bằng nhân dân thì dân chủ là của quý báu nhất trên đời
của nhân dân; dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ (2). Quan niệm đó thể hiện
sự gắn bó mật thiết giữa tính nhân văn và tính pháp lý của dân chủ, được thể
hiện thống nhất trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992. Nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam được xây dựng và thực hiện theo nguyên tắc mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; Nhà nước bảo đảm
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân
dân. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan của nhà nước đều tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới
tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo phương châm dân chủ, công khai. Quốc hội
đã thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ là cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam có quyền lập hiến và lập pháp; quyền giám sát tối cao đối với
toàn bộ hoạt động của Nhà nước; quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối
nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.
Ở nước ta, nhân dân lao động thực hiện quyền làm
chủ xã hội, tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội không chỉ thông
qua Nhà nước mà còn thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hiến pháp Nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức
liên minh chính trị, liên hiệp, tự nguyện của các tổ chức chính trị, các tổ
chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai
cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước
ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị
của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân,
tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích
chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm
chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện để mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả”(3). Với những yếu
tố trên cho phép khẳng định, Nhà nước ta là nhà nước của nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm đất nước đổi mới, Đảng ta xác
định, cải cách nền hành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện
bộ máy nhà nước. Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước là nhằm xây dựng
củng cố nền hành chính trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa. Cùng với việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa vững mạnh hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức và hoạt
động của các tổ chức xã hội đã có sự đổi mới. Các tổ chức xã hội đã thực hiện
ngày càng tốt hơn các hoạt động tham gia thành lập các cơ quan nhà nước và tham
gia giám sát hoạt động của các cơ quan đó. Giáo dục hội viên chấp hành đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội, ý thức, năng lực của người làm chủ; thu thập, phản ánh ý kiến
nhân dân, đề xuất với cấp uỷ đảng, cơ quan nhà nước những chủ trương, giải pháp
xây dựng bộ máy nhà nước các cấp; tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước.
Sự nghiệp giáo dục – đào
tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật, báo chí,
thông tin, xuất bản được pháp luật bảo vệ và nhà nước bảo đảm. Việc tuyên
truyền, nghiên cứu khoa học, các hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật, các
lĩnh vực thông tin, báo chí xuất bản đã được phát triển theo hướng khuyến khích
mọi tìm tòi sáng tạo, tôn trọng tinh thần độc lập trong suy nghĩ, nhận thức,
trong thảo luận, tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng đã tạo ra trong đời
sống tinh thần xã hội bầu không khí cởi mở, năng động, sáng tạo, tin cậy, đấu
tranh vì lợi ích của nhân dân và lợi ích của dân tộc. Hệ thống thông tin đại
chúng đã có sự phát triển mạnh mẽ ngày càng thực hiện tốt chức năng thông tin,
giáo dục, tổ chức, phản biện xã hội vì lợi ích của nhân dân, của đất nước. Xu
hướng thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất
bản đã từng bước được khắc phục. Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể
thao ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của
nhân dân. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đã được các
tầng lớp nhân dân hưởng ứng và ngày càng đi vào chiều sâu.
Các văn bản pháp luật của Nhà nước về thực hiện
dân chủ, về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập, về văn hoá, giáo dục –
đào tạo, về y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, về dân số, dân tộc, tôn giáo,
miền núi…. về cơ bản đã phù hợp với xu thế dân chủ hoá trên các lĩnh vực kinh
tế, xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo ra không khí xã
hội cởi mở, dân chủ, quy tụ được sự đồng thuận xã hội; phát huy được tiềm năng
sáng tạo và khơi dậy truyền thống dân tộc, tạo động lực xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Các giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa đã từng bước được hiện thực
hoá trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam đang ngày càng thể hiện mọi quyền lực thuộc về nhân dân.
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013, thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIII tiếp tục khẳng
định: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng và thực hiện theo
nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; “tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2); Nhà nước bảo đảm và phát huy
quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con
người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện (Điều 3); Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao
động và của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng… Trách nhiệm của Đảng phải “gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục
vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về
những quyết định của mình” (Điều 4); Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức,
viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ
với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết
đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu hách dịch, cửa
quyền” (Điều 8)… Những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Hiến
pháp năm 2013 là kết tinh trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân
ta một lần nữa khẳng định cơ sở pháp lý và sự phát triển, hoàn thiện không
ngừng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Từ một số vấn đề lý luận và thực tiễn đã đề cập
trên đây đòi hỏi chúng ta phải nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với
những luận điệu phá hoại của các thế lực thù địch cách mạng nước ta. Mọi ý đồ
thâm hiểm của những luận điệu xuyên tạc cho rằng, ở Việt Nam không có dân chủ,
là hòng gây mất ổn định chính trị, phá hoại thành quả của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đã đổ bao xương máu mới giành được. Dã tâm của
các thế lực thù địch là muốn loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi đời sống
chính trị đất nước; xoá bỏ chính quyền cách mạng, đưa đất nước ta đi theo mô
hình tự do dân chủ tư sản; phá hoại niềm tin của nhân dân và của dân tộc đối
với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được dày công xây dựng và khẳng định tính
ưu việt trong đời sống xã hội Việt Nam. Mục tiêu của chúng là muốn từng bước
tách Đảng, Nhà nước khỏi các tầng lớp nhân dân, tạo lập sự đối lập giữa nhân
dân với Đảng, Nhà nước, phá vỡ cơ sở xã hội – giai cấp của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động chống lại Đảng, Nhà nước, đưa đất
nước ta chuyển sang quỹ đạo của nền dân chủ tư sản.
Mặt khác, tình hình thế giới gần đây cho thấy,
xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân chủ là một chiêu bài, một thủ đoạn mà các thế
lực hiếu chiến đã và đang thực hiện để làm sụp đổ, gây nội chiến ở các quốc gia
dân tộc mà chúng cho rằng không đi theo mô hình của nền dân chủ tư sản. Những
gì xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và các nước Trung Đông, Bắc Phi
hiện nay là một minh chứng rõ ràng cho mưu đồ thâm hiểm của các thế lực thù
địch lợi dụng vấn đề dân chủ để can thiệp, lật đổ chính quyền của các quốc gia
dân tộc không đi theo “gậy chỉ huy” của chúng. Điều đó, giúp chúng ta hiểu rõ
và cảnh giác hơn trước âm mưu, thủ đoạn, dã tâm thâm hiểm của các thế lực thù
địch đối với cách mạng nước ta.
Nhận xét
Đăng nhận xét