TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG QUA BA MƯƠI NĂM ĐỔI MỚI – THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Tóm tắt: Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong những nhân tố dẫn đến thành công của sự nghiệp đổi mới là tư duy độc lập, sáng tạo của Đảng. Tư duy ấy vừa là nhân tố khơi nguồn vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua mọi thời kỳ, mọi lĩnh vực đưa đất nước vượt qua những giai đoạn khó khăn thử thách khắc nghiệt nhất; đi sâu vào những lĩnh vực nhạy cảm phức tạp của đời sống xã hội, đưa công cuộc đổi mới đến thành công. Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng là kết quả của việc kế thừa và phát huy tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh; do phát huy trí tuệ của toàn dân; do thường xuyên nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm để chỉ đạo hoạt động thực tiễn cầm quyền.
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đó như một cuộc canh tân vĩ đại trong tiến trình lịch sử dân tộc. Sau 30 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua bao khó khăn thử thách giành được những thắng lợi vẻ vang. Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đánh giá: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước phát triển. Chính trị – xã hội ổn định; văn hóa – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”[1]. Những thành công đó một phần lớn là ở tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng. Đó như một yếu tố bảo đảm cho Đảng luôn hoàn thành sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong mọi thời điểm dù là khó khăn nhất của sự nghiệp cách mạng. Trước những bước ngoặt trong tiến trình phát triển của cách mạng, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo luôn được phát huy cao độ đáp ứng mọi yêu cầu của lịch sử.
Qua lịch sử lãnh đạo cách mạng nước ta, cho thấy tư duy độc lập của Đảng là cách nghĩ, cách làm không lệ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi, không giáo điều. Tự chủ là tự mình làm chủ mọi suy nghĩ và hành động, làm chủ bản thân và công việc, tự bản thân phải thấy trách nhiệm lớn lao trước đất nước và dân tộc. Tư duy độc lập, tự chủ cũng có nghĩa là phải tự hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại. Đường lối đó phải phục vụ lợi ích quốc gia như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với quan niệm siêu hình, hạn chế những hoạt động đó trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý, mà luôn liên hệ với sự phát triển chung của thế giới. Sáng tạo là vận dụng đúng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù. Sáng tạo còn là sẵn sàng từ bỏ những cái gì đã cũ đã lỗi thời, những gì không phù hợp với thực tiễn, những cái gì đúng trước kia nhưng nay không còn phù hợp. Đồng thời, sáng tạo cũng là tìm tòi, đề xuất những cái mới để có thể trả lời được những đòi hòi của cuộc sống đặt ra. Cái mới, cái sáng tạo là phù hợp với quy luật khách quan, đồng thời phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Cái mới có thể kế thừa cái cũ, bổ sung giá trị mới, làm cho cái mới khác về chất so với cái cũ. Cái mới cũng là cái chưa từng có trong tiền lệ lịch sử.
Tư duy phản ánh hiện thực nhưng được biểu hiện qua cách nghĩ cách làm của chủ thể. Tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng thể hiện ở những hành động cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử. Ở vào thời thời kỳ khó khăn khắc nghiệt nhất của lịch sử, đó là thời điểm Liên Xô – thành trì của chủ nghĩa xã hội và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Ở bước ngoặc khó khăn nhất của cách mạng, tinh thần sáng tạo và độc lập, tự chủ của Đảng được phát huy cao độ và có ý nghĩa quyết định đưa cách mạng Việt Nam vượt lên mọi thách thức để giành thắng lợi. Những năm 80 của thế kỷ XIX, Liên Xô và một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Đứng trước khó khăn thử thách to lớn đó, nhờ có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo Đảng đã bình tĩnh sáng suốt phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan để tìm ra nguyên nhân của sự đổ vỡ. Trên cơ sở đó, Đảng và nhân dân ta luôn kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngay trong lúc sóng to gió cả; nghiêm túc học tập bạn bè, những nước đi trước, những kinh nghiệm hay và phù hợp nhưng không sao chép, rập khuôn; đã xác định đường lối đổi mới với các bước đi thích hợp.
Vượt qua khó khăn thử thách này càng làm cho Đảng trau dồi thêm bản lĩnh lãnh đạo đất nước, tin tưởng vào sự lựa chọn đúng đắn về con đường cách mạng của chúng ta đã lựa chọn. Tuy nhiên, thông qua đó Đảng ta cũng rút ra bài học vô cùng quý giá trong lãnh đạo đất nước là trong mọi lúc mọi nơi phải luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo. Như vậy, nếu không có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo chúng ta đã phạm vào chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn kinh nghiệm của nước ngoài, chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, cách mạng phạm phải sai lầm và tổn thất như của Liên Xô và các nước Đông Âu. Đồng thời, nếu không có tư duy độc lập, tự chủ Đảng ta cũng không sáng tạo tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục khó khăn từ đó vững tin để vượt qua khó khăn thử thách.
Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng thể hiện rõ nét nhất trong lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đến nay. Đảng hoàn toàn độc lập, tự chủ tìm ra hướng đi riêng cho mình thông qua đổi mới và tự đổi mới một cách sáng tạo và hiệu quả. Đảng đã không rập khuôn theo mô hình cải tổ, cải cách của các nước mà luôn sáng tạo bước đi riêng, tỉnh táo và kịp thời phát hiện những sai lầm, khuyết điểm chủ động khắc phục để đưa công cuộc đổi mới của đất nước phát triển đúng hướng và có hiệu quả. Tư duy ấy được thể hiện ngay trong giai đoạn tiền đổi mới bằng ba bước đột phá mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách “làm cho sản xuất bung ra”, là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó. Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6-1985) là bước đột phá thứ hai với chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-1986) là bước đột phá thứ ba với kết luận về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế.
Ba bước đột phá đầy tính sáng tạo là biểu hiện sâu sắc của tư duy độc lập, tự chủ; là tiền đề cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước được thể hiện trong Đại hội VI của Đảng. Với phương châm: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã khẳng định: “Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”[2]. Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới 30 năm qua chính là thắng lợi của phát huy cao độ tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng. Đảng ta đã kiên định mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội, nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời, nhạy bén nắm bắt những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để chủ động giải quyết. Đảng đặc biệt quan tâm thể chế hóa và cụ thể hóa đường lối thành pháp luật và chính sách, bình tĩnh và chủ động vượt qua thách thức nặng nề, những biến động chính trị của thế giới, bảo đảm cho đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa trụ vững, phát triển. Những thành tựu của công cuộc đổi mới giúp Đảng củng cố thêm nhận thức: nếu phát huy cao độ tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo thì hoàn toàn có thể vượt qua mọi thử thách, dù là thử thách khắc nghiệt nhất.
Trong thời kỳ cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang là chủ đạo, trong khi trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ bé, chưa đủ tạo sức bật mới đối với sản xuất và phát triển thị trường. Nếu không có đường lối và thể chế chính trị, chiến lược kinh tế độc lập thì chúng ta không thể tự chủ trong mọi hoạt động của đất nước. Tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng được phát huy trong xây dựng và phát triển đất nước thông qua chủ trương phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ một cách linh hoạt, sáng tạo. Những quan điểm đó được thể hiện trên những phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội và ngoại giao. Trên từng phương diện ấy tư duy độc lập, tự chủ đều thể hiện một cách sáng tạo trong việc hoạch định đường lối chính trị, ngoại giao, chính sách và thể chế kinh tế.
Trên phương diện chính trị, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng được thể hiện trong việc xác định mục tiêu, mô hình, con đường phát triển đất nước. Đảng tự mình xác định; tự mình hoạch định đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển đất nước phù hợp với những giai đoạn phát triển của đất nước; tự mình xác lập và duy trì thể chế chính trị riêng, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Sự xác định ấy không phải là chủ quan, giáo điều mà là một sự sáng tạo có cơ sở lý luận và thực tiễn. Cơ sở của sự đổi mới đó phải trên cơ sở các nguyên lý lý luận, các nguyên tắc, kinh nghiệm thực tiễn của đất nước và các nước khác, nhưng phải sáng tạo và phát triển: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”[3].
Theo đó, về mặt chế độ chính trị là thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền, chỉ có thể chế chính trị này mới đưa nhân dân ta tới mục tiêu “dân giầu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”[4]. Cách thức để đạt tới mục tiêu đó phải thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con đường “là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”[5]. Độc lập, tự chủ trong xác định cách thức, con đường nhưng Đảng rất sáng tạo trong việc xác định sự “phát triển bỏ qua”. Sự bỏ qua ấy phải “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”[6]. Thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, mô hình của chủ nghĩa xã hội được Đảng xác định trên những đặc trưng cơ bản, các đặc trưng này cũng được bổ sung phát triển sáng tạo qua từng thời kỳ: 6 đặc trưng (Đại hội VII), 8 đặc trưng (Đại hội X và Đại hội XI). Qua thực tiễn phát triển đất nước đã chứng tỏ sự lựa chọn thể chế chính trị, mô hình, mục tiêu, con đường phát triển đất nước là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với xu thế chung của thế giới, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Thành quả trên mọi phương diện của công cuộc phát triển đất nước càng cho chúng ta thấy nhờ có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo Đảng mới đề ra đường lối chính trị đúng đắn đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Về lĩnh vực kinh tế, xây dựng nền kinh tế đủ mạnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, phụ thuộc về kinh tế sẽ dẫn đến phụ thuộc về chính trị, mặt khác để tận dụng thành tựu của thế giới thu hẹp khoảng cách giữa các nước và phát huy được lợi thế trong nước. Phát huy tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo trong lĩnh vực kinh tế, được thể hiện bằng chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hợp tác quốc tế về kinh tế của Đảng. Theo đó, Đảng ta chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”[7]. Với chủ trương này chúng ta hoàn toàn độc lập, tự chủ trong hoạch định các đường lối, chiến lược phát triển kinh tế theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng đã tiến hành xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất – kỹ thuật đủ mạnh; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh.
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, độc lập về kinh tế của một quốc gia không phải là biệt lập, khép kín, tự cung tự cấp, tự sản xuất mọi thứ đất nước cần bằng bất cứ giá nào. Tự chủ không phải là tự quyết định một cách cứng nhắc và tuyệt đối, không tính đến các quy định của các thể chế kinh tế – tài chính quốc tế, không thực hiện đúng các cam kết quốc tế, không quan tâm đến lợi ích của các đối tác, bất chấp luật pháp và thông lệ quốc tế. Vì vậy, tư duy độc lập và tự chủ về kinh tế của Đảng luôn gắn với sáng tạo. Sáng tạo trong xác định chế độ sở hữu, thành phần kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế, nguyên tắc phân phối, đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.., trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sự sáng tạo ấy là gắn kết “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế”.
Về lĩnh vực đối ngoại, đây là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng để mở rộng quan hệ, nâng cao vị thế, uy tín của nước ta với các nước trên thế giới. Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng được phát huy bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Tư duy độc lập, tự chủ về đối ngoại của Đảng chính là không giáo điều, rập khuôn, máy móc trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại; trong xác định bạn, thù và tập hợp lực lượng quốc tế. Tuy nhiên, phải nắm vững nguyên tắc đối ngoại, linh hoạt, sáng tạo và khôn khéo đề ra đường lối đối ngoại phù hợp. Theo đó, Đảng ta chủ trương: “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”[8]. Hệ thống các quan hệ đối ngoại rộng lớn hiện nay của Việt Nam là kết quả của một quá trình thực hiện các bước đột phá: từ phá thế bao vây, cấm vận, bình thường hoá quan hệ với các nước lớn, cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực.., đến thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, là bạn với tất cả các nước, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế… Bằng tư duy độc lập, tự chủ, tư duy về đối ngoại của Đảng ta đã phát triển sáng tạo qua các thời kỳ, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước. Từ đường lối đối ngoại trên cơ sở tuyên bố “muốn là bạn” (Đại hội Đảng lần thứ VII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội Đảng lần thứ VIII), “là bạn và đối tác tin cậy” (Đại hội Đảng lần thứ IX), Đại hội Đảng lần thứ XI và XII hoàn chỉnh và bổ sung thêm cụm từ là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Có thể thấy phương châm ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là một trong những đặc sắc thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ sáng tạo trong ngoại giao của Đảng. Tư duy về lĩnh vực ngoại giao của Đảng rất linh hoạt mềm dẻo, tùy thuộc điều kiện, mối quan hệ, lĩnh vực cụ thể để xác định đối tượng và đối tác: “Trong mỗi đối tượng vẫn có mặt cần tranh thủ, hợp tác trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta”[9].
Điều kiện để bảo đảm độc lập, tự chủ về đối ngoại trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là: chính trị, xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững; quốc phòng vững mạnh; nguồn nhân lực đối ngoại trung thành và chuyên nghiệp; quan hệ cân bằng với các nước lớn. Trong bối cảnh mới, dựa vào thế và lực mới của đất nước, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là kiên trì bảo vệ và chủ động tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, ổn định để tập trung xây dựng và phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Để thực hiện được các nhiệm vụ này Đảng ta đã chủ động nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, gắn ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế. Nắm vững mục tiêu ngoại giao: “ giữ vũng môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đã các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”[10], kiên định nguyên tắc ngoại giao: “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”[11] từ đó bám sát tình hình, linh hoạt ứng biến. Tích cực tranh thủ và chủ động tạo dựng thời cơ, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Trước những vấn đề phức tạp và nhạy cảm liên quan đến chanh chấp chủ quyền, lãnh thổ với chủ trương giải quyết các vấn đề bằng hòa bình, Đảng hoàn toàn độc lập tự chủ và sáng tạo tìm ra cách ngoại giao riêng nhằm tranh thủ ủng hộ của bạn bè, nhân dân tiến bộ thế giới nhằm đạt được mục đích chính trị của chúng ta.
Những thành quả to lớn thông qua ngoại giao mà chúng ta đã đạt được là: tạo được sự chuyển biến quan trọng từ hình thái hai phe đối đầu, thù địch của thời kỳ chiến tranh lạnh sang hình thái hợp tác và đấu tranh cùng tồn tại hòa bình với các nước láng giềng, khu vực; cải thiện căn bản mối quan hệ với các nước lớn có mặc cảm lịch sử với Việt Nam; xác lập môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; phá được thế bị bao vây, cô lập; mở rộng hợp tác và tham gia tích cực đời sống cộng đồng quốc tế, góp phần ổn định chính trị và an ninh quốc gia, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; mở ra vận hội để nước ta tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, chính trị và văn hóa, góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo tiền đề quan trọng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng có được là kết quả của việc kế thừa và phát huy tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phẩm chất tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam dành thắng lợi. Đảng ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, nên phẩm chất tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người là đã trở thành phẩm chất trong tư duy của Đảng. Phẩm chất tư duy ấy lại được kiểm nghiệm, gọt dũa và tôi luyện thông qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng. Nó đã trở thành bản lĩnh và phong cách của Đảng, trong mọi tình huống, mọi giai đoạn cách mạng phẩm chất ấy lại thể hiện như một văn hóa lãnh đạo để chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi khó khăn thử thách đưa đất nước tới thắng lợi và thành công. Vì vậy, có thể rút ra bài học kinh nghiệm của từng thời kỳ cũng như bài học chung trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam là: nếu không rèn luyện được tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo thì thực tiễn cách mạng sẽ phạm vào chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn kinh nghiệm của nước ngoài, không đủ bản lĩnh chèo lái con thuyền cách mạng và cách mạng sẽ phạm phải sai lầm và tổn thất. Từ đó càng khẳng định vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng và để tiếp tục phát huy tư duy độc lập ,tự chủ sáng tạo của Người Đảng ta xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính  trị – xã hội”[12].
Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo còn là phẩm chất trí tuệ của Đảng được hình thành từ phát huy trí tuệ của toàn dân. Trí tuệ của Đảng trước hết là lý luận tiền phong, là không ngừng nâng cao trình độ lý luận, khả năng tư duy và tổng kết thực tiễn. Đó là khả năng nắm bắt và vận dụng các quy luật khách quan trên cơ sở yêu cầu thực tiễn. Thực tiễn ngày càng khẳng định rằng, không nâng cao trí tuệ của Đảng thì chẳng những không thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng mà còn không giữ được bản lĩnh độc lập, tự chủ nhất là ở những bước ngoặt khó khăn, phức tạp của cách mạng, những khúc quanh của lịch sử dân tộc.Tuy nhiên, Đảng ta là đảng của giai cấp, của dân tộc, trí tuệ của Đảng là biểu hiện tập trung trí tuệ dân tộc. Trí tuệ của dân tộc chỉ được phát huy khi văn hóa cầm quyền được hiện thực trong quá trình lãnh đạo của Đảng với nhân dân lúc đó mới tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh và trí tuệ của nhân dân.
Tức là, Đảng phải liên hệ mật thiết với nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, lấy dân làm gốc, có sự đồng thuận giữ ý đảng và lòng dân, mọi đường lối chủ trương phải xuất phát từ ý chí nguyện vọng của nhân dân. Đảng phải luôn quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”, xác định mọi quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân; Đảng và Nhà nước cũng như mọi cán bộ, công chức phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hết lòng chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, thật sự là người lãnh đạo và là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Vì vậy, bài học kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra trong phát huy trí tuệ của nhân dân, trước hết phải “luôn luôn quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” , vì lợi ích của nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sáng tạo và mọi muồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc”[13]. Tiếp đến trong công tác lãnh đạo nhân dân phải “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”[14] và “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”[15].
Có được tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo Đảng đã phải thường xuyên tự đổi mới,  bằng cách nghiên cứu lý luận, bám sát và tổng kết kinh nghiệm để khái quát lý luận, chỉ đạo hoạt động thực tiễn cầm quyền. Đảng đã thường xuyên đổi mới và tự đổi mới, nâng cao trình độ tư duy lý luận, tư duy lãnh đạo, tư duy quản lý, bằng cách thực hiện tốt di huấn của Hồ Chủ tịch: “cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”[16]. Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình và phê bình như “rửa mặt hàng ngày”, kịp thời khắc phục sửa chữa những sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo đất nước; kiên quyết đấu tranh khắc phục những bảo thủ trì trệ lạc hậu trong tư duy, những biểu hiện của bệnh kinh nghiệm, giáo điều trong hoạt động thực tiễn của Đảng nói chung và từng cán bộ đảng viên nói riêng. Bên cạnh đó, Đảng cũng không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra và Đảng đã “hết sức chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh”[17].
Thành công của ba mươi năm đổi bắt nguồn từ tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng. Những thành công đó là cơ sở để Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, để thực hiện thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, phải phát huy tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong thời kỳ mới. Tiếp tục phát huy tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong giai đoạn hiện nay, Đảng cần kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng toàn dân. Nhằm mục đích tạo sự đồng thuận, đoàn kết nhất trong Đảng, trong nhân dân, xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy trí tuệ toàn dân, nâng cao văn hóa Đảng. Bên cạnh đó, phải tiếp tục nâng cao bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, thường xuyên tự đổi mới và đổi mới tư duy lãnh đạo, phong cách lãnh đạo, xây dựng nhãn quan chính trị sắc bén, để linh hoạt sáng tạo trong giải quyết các vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra.


Nhận xét