Hơn một trăm năm qua, nhất là hai thập kỷ trở lại đây, đặc biệt là trước những biến động dữ dội và hết sức phức tạp của thời cuộc, vấn đề khẳng định hay phủ định giá trị của Học thuyết Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp luôn là tâm điểm của cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng, đồng thời luôn là điểm nóng phản ánh trực tiếp cuộc xung đột về ý thức hệ giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Ở đó, vô luận trong mọi thời điểm và dưới mọi chiêu thức, những lý luận gia biện hộ cho giai cấp tư sản đều coi lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp như là “một sai lầm lịch sử chết người” của riêng các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác. Hoặc ít ra theo họ, học thuyết này cũng đã lỗi thời, bị “cáo chung” cùng với thời đại văn minh công nghiệp, và vì thế, nó mất hết giá trị trong thời đại mới – thời đại văn minh hậu công nghiệp, v.v và v.v.
Rất tiếc, sự thật lịch sử và tính tất yếu thép của chân lí lại không chiều theo ý muốn chủ quan của “những lý luận gia” đã nhắc đến trên đây.
1. Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, giai cấp và đấu tranh giai cấp không thuần túy là vấn đề chính trị, mà còn là và trước hết là vấn đề kinh tế. Tiêu chí phân định các tập đoàn người thành giai cấp, mảnh đất dung dưỡng cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau, trước hết và quyết định là ở sự khác nhau và đối lập giữa họ về địa vị trong một nền sản xuất nhất định trong lịch sử. Nguồn gốc sâu xa, suy đến cùng của hiện tượng đặc biệt này là do sự khác nhau, đối lập nhau giữa các cộng đồng người trong quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu. Con đường tất yếu để giải quyết tận gốc vấn đề này là xóa bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu.
Đó là thực chất lý luận khoa học của học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên, công lao khai phá, phát hiện ra vấn đề này không thuộc về các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, mà thuộc về các nhà tư tưởng trước C. Mác. Chính C. Mác, trong bức thư gửi Vây-đơ-mai-ơ đã khẳng định: “Còn về phần tôi thì tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không phải có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau. Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp” (1).
Lịch sử tư tưởng nhân loại đã ghi nhận, từ rất lâu trước khi xuất hiện C. Mác và chủ nghĩa Mác, ngay từ giữa thế kỷ XV, các nhà kinh tế chính trị học và sử học tư sản, bằng việc khảo cứu chế độ phong kiến và quá trình thoát thai của chế độ tư bản từ cái chế độ “trơ ì” nhất trong tiến trình lịch sử này đã nhận ra rằng, chính chế độ tư hữu là nguồn cơn, là gốc rễ của mọi vấn đề và xem cuộc đấu tranh giai cấp là một tất yếu, là nội dung cơ bản của xã hội có phân chia giai cấp. Những kết luận khoa học như vậy, rõ ràng là “không thể chấp nhận được” với giai cấp thống trị và lịch sử cũng cho thấy rằng, những ai đưa ra những kết luận kiểu ấy cũng không thể sống yên thân được trong xã hội đương thời. Điều này lí giải tại sao, khi Tômát Morơ (1478 – 1535), trong tác phẩm nổi tiếng của mình – tác phẩm Không tưởng – đưa ra khuyến cáo phải xóa bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu, thì mặc dù được sinh ra trong một gia đình quyền quý, bản thân đã làm đến chức Tể tướng của triều đình vẫn bị quy cho tội phản quốc và bị xử tử sau nhiều năm tù tội. Còn Ricácđô (1772 – 1823), người sinh ra trong một gia đình tư sản và bản thân cũng là một nhà tư sản, sau khi vạch trần cơ sở kinh tế của các mâu thuẫn giai cấp của xã hội tư bản trong tác phẩm “Những nguyên lí của kinh tế chính trị và thuế khóa” (1817), đã bị chính quyền đương thời gán cho biệt danh là “cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản”, quy kết hệ thống lý luận của ông là có “khuynh hướng tạo ra sự hằn thù giữa các giai cấp” và tác phẩm vừa kể đến ở trên cũng bị quy kết là “một cuốn chỉ nam cho người mị dân đang muốn giành lấy chính quyền bằng con đường cải cách ruộng đất, chiến tranh và cướp bóc” (2).
Với học thuyết về giá trị thặng dư và quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử, C.Mác đã làm cho lý luận về giai cấp trở thành khoa học. Theo đó, “1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, 2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, 3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp” (3). Dễ thấy rằng, sứ mệnh của học thuyết C.Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp là bằng cách này hay cách khác góp phần vào việc lật đổ xã hội tư bản chủ nghĩa, là tham gia vào việc giải phóng giai cấp vô sản hiện đại, cũng tức là thủ tiêu giai cấp tư sản với tính cách là kẻ đại diện cuối cùng nhưng tinh vi và xảo quyệt nhất cho sự áp bức giai cấp. Ở đó, bất chấp những sự tô vẽ cho tính chất “phi giai cấp, phi bóc lột” của những lý luận gia tư sản, xã hội tư bản hiện đại, do bản chất của nó quy định “cũng giống như tất cả những xã hội trước nó, đã bị lột trần cái chân tướng là một cơ cấu khổng lồ trong đó đại đa số nhân dân bị bóc lột bởi một thiểu số người ngày càng thu hẹp lại” (4).
Chính vì thế, khó mà có thể trông chờ vào lòng khoan dung của giai cấp tư sản đối với C.Mác. Nhưng chúng ta hãy xem những kẻ thù tư tưởng của C.Mác phản bác lại học thuyết của ông như thế nào?
2. Học thuyết C.Mác về giá trị thặng dư cũng như lý luận khoa học của ông về bóc lột luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của các lý luận gia tư sản nhằm tìm ra cái họ gọi là “gót chân Asin” ngay trong nền tảng lý luận của học thuyết C. Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các lý luận gia tư sản cố tỏ ra khách quan khi nhận xét rằng, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác có thể đúng trong thời đại công nghiệp, nhưng không còn phù hợp với thời đại hậu công nghiệp – thời đại của kinh tế tri thức. Họ lập luận rằng, trong nền kinh tế tri thức, lượng lao động sống phải sử dụng trong quá trình sản xuất ngày càng ít đi, nhưng năng suất lao động vẫn không ngừng tăng lên. Sự giàu có của những ông chủ tư sản, theo họ, không phải chủ yếu nhờ vào bóc lột công nhân như trước đây, mà là do đầu óc sáng tạo và nhanh nhạy phát hiện kỹ thuật mới, do tài quản lý và sử dụng chất xám đem lại. Rằng lập luận của C.Mác coi lao động sống như là nguồn gốc duy nhất của giá trị và giá trị thặng dư, coi giá trị thặng dư là phần giá trị làm ra ngoài giá trị sức lao động của người công nhân bị nhà tư sản chiếm đoạt cũng vì thế mà trở nên lỗi thời (!). Vì thế, mâu thuẫn đối kháng và cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trong bối cảnh lịch sử mới cũng dần bị tiêu vong do mất đi tính tất yếu kinh tế, v.v. và v.v.
Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Bởi vì, thứ nhất, lao động sống theo quan niệm của C.Mác, áp dụng vào kinh tế tri thức, chính là lao động của một cộng đồng người bao gồm cả lao động của bộ phận công nhân truyền thống (công nhân trực tiếp điều khiển máy móc) và công nhân trí thức – những người tham gia vào quá trình phát minh, sáng chế, thiết kế, chế tạo thiết bị tự động hóa và cả các nhân viên quản lý kinh doanh. Thứ hai, trong kinh tế tri thức, thông tin, tri thức và các phần mềm đều là sản phẩm lao động và có giá trị, đều thuộc về tư liệu sản xuất. Những tư liệu sản xuất này thì bản thân nhà tư sản không làm ra được, còn C.Mác cũng chưa bao giờ phủ nhận vai trò đặc biệt của tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, mặc dù tư liệu sản xuất không phải là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Thứ ba, không phải là hiện nay giai cấp tư sản ở các nước “tư bản văn minh” không còn quan tâm đến việc chiếm đoạt giá trị thặng dư nữa mà là phương cách chiếm đoạt giá trị thặng dư hiện nay đã mang tính chất toàn cầu.
Theo báo cáo của Quỹ Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), cùng với quá trình toàn cầu hóa (luôn bị chi phối bởi các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia), tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư trên thế giới hiện nay đã đạt mức 500 %. Nghĩa là nó đã vượt khá xa cái chỉ số 300 % mà với nó, theo C. Mác, dù có bị treo cổ, giai cấp tư sản vẫn cứ làm. Theo đó, sự phân cực giàu nghèo giữa các quốc gia tăng lên nhanh chóng. Chênh lệch thu nhập quốc dân bình quân đầu người của 20 nước giàu nhất so với 20 nước nghèo nhất thế giới đã lên tới 74 lần chỉ trong thế kỷ XX. Trong vòng 20 năm, kể từ năm 1980, số quốc gia bị liệt vào hạng những nước kém phát triển đã tăng từ 25 nước lên 48 nước (5). Từ khi diễn ra quá trình toàn cầu hóa, trên thế giới chỉ có 10 nước giàu lên, 130 nước nghèo đi, trong đó có 60 nước GDP bình quân đầu người kém hơn trước (6). Điều đó lí giải tại sao các Diễn đàn Kinh tế thế giới lâu nay ít khi đạt được sự đồng thuận cao và những cuộc biểu tình chống toàn cầu hóa vẫn diễn ra trên khắp thế giới với sự tham gia ngày càng đông đảo của các tầng lớp quần chúng lao động.
Luận cứ thứ hai mà các lý luận gia tư sản thường vin vào để bác bỏ học thuyết C.Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp là cái mà họ gọi là “quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê” trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại.
Có thể nói, một trong những điều chỉnh lớn nhất và có ý nghĩa nhất trong quá trình tổ chức lại sản xuất ở các nước tư bản hiện đại là xu hướng chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, biến hàng loạt các công ty tư nhân lớn thành các công ty cổ phần. Một mặt, đây là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống lại sự độc quyền của tư sản trong việc tổ chức quản lý nền sản xuất xã hội, gián tiếp phản ánh tính chất lỗi thời của phương thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa trước sự phát triển mang tính xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất hiện đại. Mặt khác, đây chính là một phương cách mới nhằm thu hút vốn đầu tư, tạo nên sự tập trung tư bản cần thiết nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh của các nhà tư sản. Theo đó, hàng triệu người lao động cả trong và ngoài nước có thể dùng số tiền nhàn rỗi của mình đầu tư vào quá trình sản xuất dưới các hình thức cổ phiếu, trái phiếu hay tiền gửi để tăng thêm thu nhập dưới các dạng lợi tức tương ứng. Trên thực tế, điều này đã góp phần tạo ra sự gắn kết giữa người lao động với các công ty, xí nghiệp, qua đó tạo ra những động lực mới cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tiếp tục phát triển trong điều kiện lịch sử mới.
Xu hướng tư bản tư nhân chuyển hóa thành tư bản tập thể và hiện tượng người lao động trở thành người có sở hữu ngày càng phổ biến là một thực tế, là một đặc điểm rất mới hiện nay của chủ nghĩa tư bản. Nhưng căn cứ vào đó để cho rằng chủ nghĩa tư bản hiện nay đã thay đổi bản chất và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất sẽ tự phát hình thành cùng với sự điều chỉnh của giai cấp tư sản về quan hệ sản xuất lại là một sai lầm. Bởi vì, cả lý luận và thực tế đều cho thấy, những điều chỉnh kiểu như trên của chủ nghĩa tư bản, nhiều nhất, theo cách diễn đạt của C.Mác, chẳng qua cũng chỉ là “sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở trong giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa” (7). Những cuộc điều tra xã hội học rộng lớn và nghiêm túc gần đây cho thấy, thu nhập từ các hình thức lợi tức của công nhân và người lao động hoàn toàn không thủ tiêu lợi nhuận tư bản từ giá trị thặng dư và thu nhập đó, xét về thực chất, vẫn là một phần hết sức nhỏ nhoi nằm trong khối lượng khổng lồ của khoản lợi nhuận do chính họ làm ra. Đó cũng chính là cái giới hạn không thể vượt qua của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trước bất cứ một cuộc “điều chỉnh” nào.
Theo Maicơn Parentin, nhà triết học – xã hội học nổi tiếng của Mỹ thì hiện nay, các gia đình giàu có ở Mỹ chỉ chiếm 10% dân số nhưng nắm tới 96% cổ phiếu, trái phiếu và tiền gửi tiết kiệm. Hơn nữa, theo thống kê năm 2011 tại Mỹ, 1% người giàu nhất chiếm tới 25% GDP của cả nước và chiếm tới 99% tổng số vốn liếng của cái nơi được coi là trung tâm tài chính toàn cầu – Phố Wall (8). Và mới đây, Đài AFP dẫn báo cáo của tổ chức từ thiện Anh cho hay, tỉ lệ tài sản của 1% người giàu nhất thế giới trong tổng của cải toàn cầu đã tăng từ 44% vào năm 2009 lên 48% trong năm 2014 (9).
Như vậy, mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa – mâu thuẫn giữa tư bản và lao động – không hề mất đi trong quá trình “điều chỉnh”, mà trái lại, còn bị khoét sâu và mở rộng ra trên phạm vi toàn cầu. Và, thực tế cũng đang cho thấy, để giải quyết những mâu thuẫn này thì không thể lảng tránh được những cuộc đấu tranh (chẳng hạn như những cuộc đấu tranh rầm rộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại Mỹ và hàng loạt nước tư bản phát triển khác trong phong trào “Chiếm lấy Phố Wall” vừa qua) – mà nếu xét theo phương pháp tiếp cận rất khoa học của C.Mác – chính là những cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện lịch sử mới. Đỉnh cao của những cuộc đấu tranh này, trong những điều kiện lịch sử nhất định, đến một lúc nào đó sẽ dẫn đến các cuộc cách mạng xã hội theo đúng nghĩa mà C.Mác đã quan niệm, nhưng có thể sẽ được tiến hành với những phương thức không hoàn toàn giống như trước đây, song mục tiêu thì không hề thay đổi – xóa bỏ tận gốc mọi sự phân chia, áp bức và bóc lột giai cấp trong đời sống nhân loại.
3. Thực tế lịch sử đã cho thấy, học thuyết Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo và hết sức thành công vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ở đây, những nguyên lí nền tảng của học thuyết này về giai cấp và chính đảng, về liên minh giai cấp và động lực cách mạng, về bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản, về nội dung, hình thức và biện pháp đấu tranh giai cấp ở các giai đoạn cách mạng khác nhau… đều được hiện thực hóa trên cơ sở có tính đến tính đặc thù của hoàn cảnh Việt Nam.
Có thể khẳng định, đó là một trong những nguyên nhân cơ bản, quyết định đến thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dẫn đến sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên ở châu Á. Đó đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản, có ý nghĩa quyết định đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi biến cố thăng trầm của lịch sử để vững bước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa – xu hướng vận động khách quan, tất yếu của lịch sử nhân loại. Và, sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng Cộng sản và cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới là một minh chứng hùng hồn cho vấn đề đã đề cập trên đây.
Thế nhưng, ngay sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, không chỉ những kẻ cơ hội chính trị mà cả một số người trước đây vốn nằm trong hàng ngũ cách mạng, do choáng ngợp và hoang mang trước những luận thuyết phản động và thiếu căn cứ về cái gọi là “sự đụng độ giữa các nền văn minh”, về một cuộc “giải thể ý thức hệ” và đặc biệt là về “sự cáo chung của lịch sử”… đã quay sang xuyên tạc, vu cáo lịch sử, đòi “lật án” xét lại những giá trị đã trở thành biểu tượng cho lòng tự hào của cả dân tộc. Với họ, học thuyết C.Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp chỉ đơn thuần là một lí luận cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh và độc đoán, chuyên quyền. Rằng, đáng lẽ dân tộc ta sẽ vẫn tiến đến vinh quang mà không phải hy sinh xương máu để chiến đấu với bất cứ đế quốc nào như đường lối của những người cộng sản(!). Và vì thế, theo họ, hiện nay, chúng ta cần từ bỏ vấn đề đấu tranh giai cấp “còn nhiều tranh cãi” và “những định kiến cổ hủ” về bản chất của xã hội tư bản để “dắt tay nhau đi theo tấm biển chỉ đường của trí tuệ”, hội nhập “đầy đủ” với thế giới văn minh, tiến cùng thời đại hậu công nghiệp, v.v và v.v…
Những sự vu cáo, xuyên tạc, bôi đen lịch sử như thế, đã bị chính sự thật lịch sử lên án và bác bỏ. Còn những “lời khuyên” trên đây, xét về thực chất, chẳng qua chỉ là những lời nói suông, xu thời và mù tịt về mặt khoa học.
Như chúng ta đã biết, các luận thuyết về Sự đụng độ của các nền văn minh (The clash of civilization) của Samuel Huntington và Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng (The end of history and last man) của Francis Fukuyama là hai luận thuyết của hai nhà tư tưởng – chính trị gia tư sản hiện đại, được viết và xuất bản ngay sau chiến tranh lạnh, với chủ đích tìm kiếm một chiến lược toàn cầu mới cho các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ.
Theo tác giả của các luận thuyết này, cùng với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là thắng lợi “hoàn toàn và triệt để” của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa, lịch sử nhân loại đã vượt qua một giai đoạn phát triển – giai đoạn chiến tranh, xung đột một mất, một còn giữa hai hệ thống, hai ý thức hệ đối lập: Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa – để bước vào một giai đoạn phát triển mới: giai đoạn thế giới một siêu cường (là Mỹ). Ở đó theo họ, mọi ý thức hệ theo tiêu chí lâu nay sẽ bị “giải thể”; các cuộc chiến tranh tương lai vẫn có thể xảy ra, nhưng nguyên nhân, nguồn gốc cơ bản của nó không còn là hệ tư tưởng hay lợi ích kinh tế nữa, mà là do sự đối lập về văn hóa – văn minh giữa quốc gia, dân tộc, và vì thế, sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ trở thành nhân tố chi phối chính trị trong thế giới hậu chiến tranh lạnh (10).
Để nói rõ tính đảng tư sản của mình, các tác giả trên đây lập luận rằng, vì văn hóa – văn minh là cái quyết định sự thịnh vượng của một xã hội nhất định nên xã hội nào thịnh vượng hơn thì có văn hóa – văn minh ưu việt hơn. Nếu thế, trong thế giới đương đại, nhất là qua “chiến thắng” trong chiến tranh lạnh, cái xã hội duy nhất có được vinh dự ấy chính là xã hội phương Tây tư bản chủ nghĩa. Tiếp tục cái “lôgic” chiết trung ngụy biện ấy, các tác giả này cho rằng, vì nhân tố cơ bản quy định tính ưu việt của văn hóa – văn minh phương Tây là hệ giá trị về dân chủ, tự do, nên việc hấp thụ hệ giá trị này là con đường duy nhất để các quốc gia, dân tộc đạt đến thịnh vượng. Và, một khi cả thế giới đạt đến thịnh vượng (tất nhiên theo hệ giá trị phương Tây) thì nhân loại sẽ hoàn thành con đường phát triển của mình – đó chính là sự cáo chung của lịch sử (!)
Dễ nhận thấy rằng, lôgic của những lập luận trên đây chẳng qua chỉ là sao chép cái phương cách duy tâm tư biện mà Hêghen đã dùng để chứng minh cho sự cáo chung của lịch sử ở cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” của ông. Và đặc biệt, nếu như Hêghen dùng học thuyết của mình để biện hộ cho chiến tranh, cho tính “hợp lý vĩnh viễn” của nhà nước quân chủ Phổ, thì nội dung cốt lõi, lôgic xuyên suốt và mục đích tối thượng của các luận thuyết trên đây cũng biện hộ cho các cuộc chiến tranh của thế giới phương Tây nhằm chinh phục các nền văn minh còn lại và cổ súy cho cái gọi là “sự hội tụ tất yếu và vĩnh viễn” của lịch sử nhân loại ở chủ nghĩa tư bản và hệ giá trị tư sản. Theo đó, tất cả những gì thuộc về phi tư bản chủ nghĩa, phi phương Tây đều bị coi là những “quái thai”, những “bướu thừa” của lịch sử và cần phải loại bỏ không thương tiếc bằng bất cứ thủ đoạn nào, kể cả bằng các cuộc chiến tranh hủy diệt.
Chính vì thế, sau chiến tranh lạnh, đã không có bất cứ một cuộc giải thể ý thức hệ nào như những tuyên bố mang nặng động cơ chính trị phản động của các lý luận gia tư sản trên đây. Trái lại hiện nay, cuộc đấu tranh ý thức hệ đã được đẩy lên một tầm cao mới với các cuộc tấn công ngày càng tinh vi, trực diện của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vào ý thức hệ vô sản, trước hết là ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Tương tự, thế giới đã không trở nên an toàn hơn, không “phẳng” hơn cùng với toàn cầu hóa, không hề bị “nhất thể hóa” theo trật tự tư sản dưới bàn tay nhào nặn của một siêu cường như những tuyên bố mang nặng tính chủ quan ảo tưởng của các tư tưởng – chính trị gia trên đây. Trái lại, đó là một thế giới ngày càng bất ổn và phân cực mạnh mẽ. Ở đó, nhân loại tiến bộ, trong đó có Dân tộc ta, không những đã không khoanh tay đứng nhìn, mà còn ngày càng kiên quyết, đoàn kết cùng nhau tìm mọi phương cách đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời đại.
Và, thực tế đã và đang cho thấy, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, thì việc vận dụng một cách sáng tạo những lời chỉ dẫn của học thuyết C.Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn nguyên giá trị. Những lời la lối om sòm nhưng vô căn cứ của những kẻ thù tư tưởng đủ loại đối với học thuyết trên đây của C.Mác chẳng những không thể phủ nhận được, mà còn trở thành những bằng chứng hùng hồn xác thực cho giá trị vĩ đại và sức sống mãnh liệt của học thuyết bất hủ này trong thời kỳ mới./.

Nhận xét