Chân lý về nhân quyền
Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được
tổ chức trọng thể vào ngày 9-9-1969, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội - nơi 24
năm về trước Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945. Trong điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam có đoạn viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất
nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, vị anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã
làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta...”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa
quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết giữa nhân dân tất cả các
nước, giữa vô sản với lực lượng tiến bộ và suốt đời chiến đấu cho công bằng,
hòa bình của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì theo quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người
luôn hòa quyện với nhau và luôn nhất quán trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp đấu
tranh của Người. Vì thế, con đường cách mạng mà Người đã chọn, cuộc cách mạng
mà Người đã lãnh đạo, những chủ trương, chính sách mà Người đề ra, và cả những
việc làm rất cụ thể của Người, tất thảy đều nhằm bảo vệ con người, vì quyền con
người.
Chính vì thế mà mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường
Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm
thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể
quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều
có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc”, (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
năm 2002, tập 4, trang 1). Tiếp theo đó, Người còn nêu lên một câu nữa trong
bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người
ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi”. Và Người cũng đã khẳng định rằng: Đó là những lẽ
phải không ai chối cãi được.
Như vậy, trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2-9, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã sử dụng 2 câu cốt lõi nhất trong 2 bản tuyên ngôn cách mạng tư sản
của 2 cường quốc là Mỹ, Pháp như là một chân lý và chân lý ấy không ai có thể
chối cãi được và cũng không bao giờ thay đổi. Vấn đề là ở chỗ thông qua chân lý
đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định với thế giới rằng, nhân dân Việt Nam,
dân tộc Việt Nam hoàn toàn tán đồng và có chung ý tưởng với nhân loại về quyền
bình đẳng, quyền tự do, quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Lẽ
dĩ nhiên là nhân dân Việt Nam cũng có đầy đủ các quyền ấy như nhân dân Pháp,
nhân dân Mỹ. Và điều quan trọng hơn nữa là thông qua đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định với toàn thế giới rằng, nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam không sợ
gian khổ, hy sinh để quyết giành bằng được những quyền vốn thuộc về mình; đồng
thời nhân dân Việt Nam cũng không để bất kể thế lực nào dù hùng mạnh hay hung
ác, tàn bạo đến đâu cũng không thể cướp đi những quyền cơ bản ấy của người dân
Việt Nam.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền con người của mỗi
cá nhân không thể tách rời quyền của dân tộc. Chính vì vậy mà trong bản Tuyên
ngôn đọc ngày 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi từ khẳng định quyền con người đến
quyền của quốc gia, dân tộc. Người viết: “Tất cả các dân tộc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do”, (Sđd, tập 4, tr 2). Trên cơ sở đó, Người đã lên án và kết tội
các thế lực đế quốc xâm lược, áp bức, bóc lột dân tộc Việt Nam là trái với lẽ
tự nhiên, là vi phạm trắng trợn quyền con người mà cách mạng tư sản của nước
Pháp, nước Mỹ đã công nhận. Điều này cũng có nghĩa là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ rằng các thế lực thực dân, đế quốc đã phủ nhận, chà đạp lên tuyên bố của
các bậc tiền bối ở chính nước họ.
Với tư tưởng nâng tầm quyền con người thành quyền của quốc gia,
dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền bình đẳng giữa mọi người và
mọi quốc gia trên trái đất là lẽ tự nhiên, là chân lý không một ai có thể phủ
nhận được. Quyền con người và quyền dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt
nguồn từ truyền thống trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.
Người đã từng khẳng định, dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Trong các
cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm đến cướp nước, mỗi cá
nhân luôn hòa quyện với cộng đồng dân tộc và mọi người tìm thấy giá trị của mình
trong giá trị chung của quê hương, đất nước.
Xuất phát từ quan điểm ấy, nên trong bản Tuyên ngôn độc lập của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước
quốc dân đồng bào và thế giới về việc xóa bỏ vĩnh viễn mọi sự ràng buộc bất
bình đẳng giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới nói chung và
dân tộc Pháp nói riêng. Người nói: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy”, (Sđd, tập 4, tr 4).
Để giữ vững lời thề độc lập, chỉ một ngày ngay sau ngày tuyên bố
độc lập, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì cuộc họp của Chính phủ
lâm thời và Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách: chống giặc đói, giặc dốt, xóa
bỏ tất cả các loại thuế bất hợp lý do thực dân Pháp áp đặt, ban hành các quyền
tự do dân chủ cho nhân dân, chuẩn bị tổng tuyển cử, thực hiện nam, nữ bình
quyền, tự do tín ngưỡng và thực hiện nền giáo dục nhân dân... Ngày nay, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đang trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới
để đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó chính là Đảng và
Nhà nước ta đã kế thừa và phát triển những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về quyền con người trong điều kiện mới.
Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay. Ngay sau khi thành lập nước, Việt Nam đã
tham gia đầy đủ các hoạt động bảo vệ nhân quyền của Liên hợp quốc và các tổ
chức quốc tế. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ 2 trên
thế giới tham gia ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Nhân kỷ niệm 130 năm
Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2020), nhắc lại bản Tuyên ngôn
độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh để một lần nữa chúng ta khẳng định rằng, quyền
con người hay nhân quyền là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta từ
trước tới nay. Dù các thế lực thù địch, phản động có xuyên tạc, bịa đặt đến đâu
về nhân quyền ở Việt Nam, thì thực tế cách mạng Việt Nam vẫn là chân lý không
một ai có thể thay đổi được.
Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Cách
mạng xã hội chủ nghĩa đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người
không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của
cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế
kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ
kiệt xuất của phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Nhận xét
Đăng nhận xét