ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ QUYỀN “TỰ DO BÁO CHÍ” Ở VIỆT NAM
ĐẤU
TRANH CHỐNG
CÁC QUAN ĐIỂM
SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH
VỀ
QUYỀN
“TỰ
DO BÁO CHÍ” Ở
VIỆT
NAM
Thời gian qua, trước thềm đại
hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng các
thế lực thù địch đang đẩy mạnh chống phá ta trên mặt trận tư tưởng.
Trong đó, chúng lợi dụng chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” như là một
“vũ khí”, “mục tiêu” để ra sức chống phá.
Có
thể nói, trải qua hơn 30 năm đổi mới, báo chí nước ta đã đi đầu trong việc định
hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tích cực đấu
tranh phòng, chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần
củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; là một trong những động
lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ vai trò to lớn của báo chí đối với sự nghiệp
cách mạng của nước ta, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương đúng đắn, nhất
quán để bảo đảm quyền tự do báo chí, bảo vệ những người làm báo và tạo cơ hội
cho báo chí trong nước phát triển bền vững theo đúng tôn chỉ, mục đích hoạt động.
Theo
nghĩa thông thường, tự do báo chí được hiểu là thoát ly mọi sự hạn chế, mọi sự
cấm đoán đối với báo chí, là một phần quan trọng của quyền con người, quyền
công dân. Tuy nhiên, ở các thể chế xã hội khác nhau, trong các giai đoạn lịch
sử khác nhau thì tự do báo chí cũng được giải thích, được quan niệm, được thể
chế hóa, được bảo vệ và thực hiện theo các cách khác nhau. Mức độ tự do được
quy định bởi lập trường xã hội, bởi mục tiêu mà con người đặt ra cho mình trong
từng giai đoạn.
Ở
Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp,
lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa (XHCN) Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều luật, nghị định
như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định số
72/2013/NĐ-CP, ngày 15/07/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch
vụ internet và thông tin trên mạng… Các quy định trên được thực thi nghiêm túc,
tạo không khí dân chủ trong xã hội. Những khung khổ pháp lý nêu trên đã góp
phần thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo
đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền
sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin
trên báo chí...Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận
thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật; quy định rõ
mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân; “không được xâm phạm lợi ích quốc
gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Gần
đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và
ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”;
“Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội
“bắt bớ nhiều blogger”... Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm
của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo
chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới
(RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... Trong báo cáo năm nay, mặc dù
không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”,
nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn
áp, bắt giữ trái phép các blogger”... Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh
giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam
vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.
Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự
do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam
về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm
theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng
“tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Để bảo
đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chúng ta cần phải làm thực hiện tốt
một số giải pháp sau:
Một
là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối
với báo chí, truyền thông và công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi
dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí chống phá Việt Nam.
Hai
là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí, truyền thông, quản
lý internet, mạng xã hội; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung
ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trong công tác chỉ
đạo, quản lý trên lĩnh vực này. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định đạo
đức nghề nghiệp; các chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe những
biểu hiện vi phạm.
Ba
là, cán bộ làm công tác báo chí phải làm tốt lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: “Ðể làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu
dưỡng đạo đức cách mạng”. Do đó, mỗi nhà báo cần không ngừng học tập, bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức
cách mạng, thực hiện tốt Luật Báo chí và các quy định của pháp luật trên lĩnh
vực báo chí; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích vì lợi ích của đất nước, của nhân
dân, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Bốn
là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên
lĩnh vực báo chí, truyền thông. Qua đó, chủ động phát hiện những hành vi sai
phạm, xu hướng lệch lạc ở các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên, nhà báo để
có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh.
Tự
do ngôn luận báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo
đảm quyền con người: là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội về các
mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Tự do ngôn luận,
báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp
luật minh bạch. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí của Việt Nam cần phải bị bác bỏ, lên án./.
- Thiện Tâm -
Nhận xét
Đăng nhận xét