Xây dựng Đảng về đạo đức theo Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày
2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của Đảng,
dân tộc và Nhân dân ta đã vĩnh biệt chúng ta. Người đã để lại cho chúng ta một
bản Di chúc lịch sử. Đó là tài sản, bảo vật vô giá của dân tộc ta, Nhân dân ta.
Nghĩa vụ, trách nhiệm của chúng ta là phải dày công nghiên cứu để thấu hiểu, khai
thác, tận tâm, tận lực thực hiện ý nghĩa của từng từ, từng câu trong Di chúc
của Người và biến khát vọng, hoài bão, niềm tin của Người thành hiện thực.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại, là một người có khả năng "tiên
tri thuộc về những thiên tài” và là một người suốt đời chỉ biết vì nước, vì
dân. Bản Di chúc mà Người căn dặn chúng ta và các thế hệ mai sau với hơn 1.000
từ được Bác viết trong khoảng thời gian 4 năm (từ 1965 đến 1969) là sự kết tinh
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ
cách mạng, phục vụ Nhân dân; là những lời tiên tri, chỉ dẫn, soi đường cho Đảng
ta, dân tộc ta; là tâm nguyện, tình cảm, kỳ vọng của Bác đối với sự trường tồn
của Đảng, của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân ta.
Trong
Di chúc mà Người đặc biệt quan tâm, dành nhiều thời gian, tâm, trí lực nhất và
"trước hết" là "nói về Đảng" (phần "nói về Đảng"
chiếm tới 30% số chữ trong bản Di chúc). Nội dung "nói về Đảng" trong
Di chúc có 4 đoạn và có 3 nội dung có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt nhất là
đạo đức, dân chủ, đoàn kết. Trong 3 nội dung đó, đạo đức là gốc, có tầm quan
trọng trên hết và có tầm ảnh hưởng trọng yếu nhất đến sự trường tồn của Đảng
ta.
Toàn
văn Di chúc có 43 câu và chỉ có một câu duy nhất, Hồ Chí Minh yêu cầu:
"Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật
sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"(1). Đây là câu linh hồn, tinh
túy nhất trong 43 câu của Di chúc; có tác dụng chi phối, quyết định mọi thắng
lợi của Đảng ta, của Nhân dân ta. Nó có sức mạnh bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trường tồn muôn năm.
Từ
năm 1925, trong “Đường Kách mệnh” - tác phẩm “gối đầu giường” của những người
cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã dành chương đầu tiên để viết về "Tư
cách một người kách mệnh", sau đó mới viết về lý luận và đường lối cách
mạng. Đến năm 1947, khi viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” và cho đến khi
vĩnh biệt chúng ta, trong các tác phẩm, bài nói, bài viết của mình, Người
thường dùng các khái niệm "Tư cách", "Nhân cách",
‘"Đạo đức”, "Đạo đức cách mạng" để chỉ, nhấn mạnh người đảng
viên của Đảng cần phải có, phải thấm nhuần đạo đức, đạo đức cách mạng.
Theo
Người, người đảng viên của Đảng có đạo đức cách mạng là người "đặt lợi ích
của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết". Người nhấn mạnh:
"Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính đảng”; tuyệt đối trung
thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng; "hết lòng, hết sức phục vụ Nhân
dân"; "tuyệt đối chấp hành hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng"(2),
pháp luật của Nhà nước; giữ rất nghiêm "nguyên tắc"; "thấy
khuyết điểm có gan sửa chữa" "để tiến bộ"; "gặp việc phải
có gan làm", "cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng"; "có gan
chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng"; nhân ái, vị tha, khoan
dung, nhân hậu, hết mực vì con người... và đặc biệt là "thật sự cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư". Đó là những đảng viên chân chính, "anh
dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau" được "dân tin,
dân phục, dân yêu", dân gửi trọn niềm tin, kỳ vọng và đó là những người
làm cho kẻ thù khiếp sợ, thất bại.
Và
theo Người, đối lập với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân. Đó là những
đảng viên "mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích
riêng của mình trước hết"; không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi
người vì mình”; "ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí,
xa hoa"; "tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành"; "tự
cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên
quyền"; "xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh
lệnh"; "không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để
tiến bộ"; "mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh
thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của
Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân"(3); "không
phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật", "làm theo ý
mình"... "Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà
sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm"(4) và do nó "mà phạm nhiều sai
lầm". Đó là những đảng viên biến chất, vô liêm sỉ, không còn xứng đáng là
đảng viên.
Trong
quá khứ và hiện nay, trong Đảng ta có một số đảng viên, thậm chí có đảng viên
giữ trọng trách cao trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước đã bị chủ nghĩa cá nhân
mê hoặc; bị đồng tiền, vật chất cám dỗ; bị tham vọng quyền lực cuốn hút; bị các
thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc... nên có những biểu hiện suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển
hóa"; vi phạm đường lối, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đã
bán rẻ linh hồn của mình cho kẻ thù. Những đảng viên đó đã bị kỷ luật hoặc bị
kết án phạt tù. Biểu hiệu suy thoái, biến chất trên của "một bộ phận không
nhỏ" đảng viên đã "làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn
thương tình cảm và suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ
trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ"(5).
Vì
những lẽ và thực tế trên, lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta cần tập trung quyết
liệt hơn nữa việc xây dựng Đảng về đạo đức theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi rõ: "... Đảng ta là một đảng
cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của
nhân dân". Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xác
định: "Tập trung thực hiện mục tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức"(9) chính là việc thể hiện
quyết tâm chính trị thực hiện Di chúc của Bác Hồ.
"Mỗi
đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Vì sao chỉ trong một câu trên mà Chủ
tịch Hồ Chí Minh phải sử dụng từ "thật sự" đến hai lần? bởi theo
Người, "Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan
trọng"(10). "Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù
tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(11). Và đảng viên của Đảng
"có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh, tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo
được quần chúng, đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn"(12). Người còn
nhấn mạnh thêm, "Đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư"(13); là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; là ham học, ham làm, ham tiến
bộ. "Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một
dạ phục vụ nhân dân"(14); "quần chúng chỉ quý mến những người có tư
cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta
bắt chước"(15).
Từ
đây, chúng ta có thể đúc rút những giá trị tiêu biểu của đạo đức cách mạng theo
di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trước hết, cần khẳng định những người có "đạo đức
đều là người cao thượng"
Mỗi
người vốn sinh ra có thể chất và tinh thần (trí tuệ) không giống nhau. Mỗi
người là một cá thể riêng biệt và độc lập. Nhưng họ có đạo đức giống nhau và
đều là những người cao thượng. Đối với một người bình thường, Đức là gốc - là
nguyên khí nên người có đức sẽ có trí, có tài (làm được một số việc và có đóng
góp nhất định cho gia đình và xã hội). Bởi vì, người thật sự có đạo đức thì họ
luôn cố gắng, chí thủ, vượt lên chính mình trong học tập, lao động, cuộc sống
và trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt, xuất sắc trách nhiệm của mình đối với
gia đình, xã hội và đất nước. Và họ là những người bao giờ, lúc nào cũng tận
tâm, tận lực, tận tình với tinh thần làm việc “mình vì mọi người”, vì cộng đồng
và vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: "Tuy
năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm
việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng"(16).
Thứ
hai, đạo đức là tài sản vô giá của mỗi người, mỗi đảng viên
Chúng
ta đều biết, phần đông người ta thường quan tâm tài sản - lợi ích vật chất
nhiều hơn và số người quan tâm đến tài sản - lợi ích tinh thần ít hơn (trong
đó, có tài sản đạo đức). Điều này là dễ hiểu và là bình thường vì con người
sống trước hết là phải nhờ, dựa vào tài sản vật chất nhưng tuổi thọ của mỗi
người không hoàn toàn dựa vào tài sản vật chất mà còn phải dựa vào tài sản tinh
thần (trước hết là tài sản đạo đức). Tài sản vật chất thì có thể trao đổi, mua
bán, cho, tặng, biếu... Còn tài sản đạo đức thì không thể thực hiện các hình
thức giao dịch như tài sản vật chất. Nó là tài sản duy nhất chỉ có một chủ sở
hữu và không thể thực hiện chuyển giao cho người khác được. Đạo đức luôn ở bên
cạnh bạn, trung thành tuyệt đối với bạn, bảo vệ bạn trong mọi hoàn cảnh và ngay
cả khi bạn bị kết án phạt tù, nó cũng trung thành đứng lên bênh vực, minh oan,
giúp bạn sớm được trả lại sự trong sạch cho bạn (vì bạn là người có đạo đức,
bạn không có làm việc gì sai trái - không vi phạm pháp luật). Và ngược lại, dù
bạn có nhiều tài sản vật chất nhưng khi bạn vi phạm pháp luật bị kết án phạt tù
thì nó ngoảnh mặt, làm ngơ, xa lạ với bạn và nó nói rằng bạn là người đã vi
phạm pháp luật - phải chấp hành án phạt tù (vì bạn không có đạo đức - đã vi
phạm pháp luật). Chính vì vậy, có thể nói đạo đức thật sự là tài sản vô giá của
mỗi người, mỗi đảng viên do mình dũng cảm tu dưỡng, "rèn luyện bền bỉ hằng
ngày" làm theo cái chân, cái thiện, cái mỹ; tích góp, chắt chiu từ việc
làm đúng, tốt đẹp nhỏ nhất hằng ngày mới trở nên giàu có được và sự giàu có về
đạo đức là khan hiếm.
Thứ
ba, đạo đức là sức mạnh của mỗi người, mỗi đảng viên
Người
có chức vụ cao, đứng đầu một địa phương, một ngành hay cao hơn thế mà không có
đạo đức thì nhân dân không có niềm tin, không thể lãnh đạo được nhân dân và
điều chắc chắn là địa vị, quyền lực của người ấy sẽ bị lung lay, khó bền vững
và không sớm thì muộn sẽ bị tước địa vị, quyền lực. Từ cổ chí kim và thực tế đã
cho nhiều minh chứng sinh động. Trong thời gian gần đây có nhiều đảng viên giữ
chức vụ cao đã bị kỷ luật hoặc bị kết án phạt tù. Thực tế này cho thấy sức mạnh
đạo đức sẽ thắng sức mạnh quyền lực (không có đạo đức). "Đạo đức bao giờ
cũng thắng uy vũ" (Hàn Tín). Vì vậy, mỗi người và hơn ai hết, mỗi đảng
viên chúng ta phải cố gắng rèn luyện để mình trở thành người có đạo đức để có
sức mạnh tự mình bảo vệ mình, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhân dân. Hãy là người cậy
đạo đức hơn là cậy chức vụ, quyền lực của mình. "Họ cậy tước của họ, ta
cậy đức của ta. Ta có gì thua kém họ?" (Mạnh Tử).
Thứ
tư, đạo đức là cội nguồn hạnh phúc của mỗi người, mỗi đảng viên
Chúng ta muốn hạnh phúc suốt đời thì hãy là một người đạo
đức. Muốn trở thành người đạo đức thì mỗi người, mỗi đảng viên hãy bắt đầu làm
đúng, làm tốt nhiệm vụ, trách nhiệm của mình đối với gia đình, cơ quan và đất
nước; quan tâm làm tốt những việc nhỏ nhất (thuộc trách nhiệm hay không phải
trách nhiệm của mình khi có thể làm được) và xem nó như một nấc thang của một
cầu thang, như một viên gạch của một ngôi nhà. Và từ nền tảng đó mà bạn bước,
leo lên cao hơn, xây dựng ngôi nhà tiếp và tiếp tục xây dựng, hoàn thiện lâu
đài đạo đức của mình. Điều quan trọng hơn rất nhiều là bạn nên phấn đấu sống vì
người khác một cách chân thành khi có điều kiện về sức khỏe, tri thức, tiền
bạc, vật chất... Anh-xtanh là một trong 10 nhà khoa học có ảnh hưởng lớn nhất
của mọi thời đại từng nhấn mạnh: "Cuộc đời sẽ chẳng đáng sống, trừ
khi ta sống vì những người khác."; "Chỉ có cuộc sống vì người
khác mới có giá trị". Và "kẻ nào chỉ nghĩ đến bản thân và việc gì
cũng chỉ tìm lợi cho mình thì không thể có hạnh phúc được. Muốn sống cho bản
thân thì phải sống vì người khác" (Khuyết danh).
Thứ
năm, đạo đức là gốc của mọi gốc và là gốc của mọi thành công, mọi thắng lợi
Đạo
đức là gốc của trung thành, dân chủ, đoàn kết; là gốc của chính trị, tư tưởng,
tổ chức; là gốc của kỷ cương, kỷ luật, bản lĩnh, bản lĩnh chính trị; là gốc của
vĩ nhân, thiên tài... Đạo đức là gốc của đảng cầm quyền. Đặc biệt là đối với
Đảng ta, một đảng chân chính, cách mạng và một đảng mà “ngoài lợi ích của Tổ
quốc, của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác” (Hồ Chí Minh).
Đạo
đức là gốc và là giải pháp gốc của công tác xây dựng Đảng.
Chính
tầm quan trọng hết sức đặc biệt của đạo đức cách mạng đến sự tồn vong của Đảng,
Đảng ta cần phải tập trung quyết liệt hơn nữa, với quyết tâm chính trị cao hơn
nữa để lãnh đạo, giáo dục đảng viên trong toàn Đảng luôn luôn có ý thức tự giác
rèn luyện đạo đức và tự giác thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng
"bền bỉ hằng ngày" như mỗi ngày phải "rửa mặt", phải uống,
phải ăn để: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Muốn đạt được mục
tiêu nêu trên, các tổ chức đảng phải thường xuyên, kiên quyết, dũng cảm góp ý,
phê bình, kiểm điểm... đối với những đảng viên có lời nói, việc làm trái với
quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, dù lời nói hay việc làm đó có ảnh
hưởng nhỏ nhất đến nhân cách của bản thân và uy tín Đảng.
Nếu
"mỗi đảng viên và cán bộ" của Đảng "thật sự thấm nhuần đạo đức
cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" thì "Đảng
ta là đạo đức, là văn minh" và Đảng ta sẽ được "dân tin, dân phục,
dân yêu", dân hết lòng ủng hộ, dân đùm bọc và dân sẵn sàng tự nguyện làm
theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Và như thế, Đảng ta có sức
mạnh vô địch để lãnh đạo cách mạng nước ta, Nhân dân ta "xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"(17), đưa đất
nước ta "trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh", "sánh
vai các cường quốc năm châu" và nhân dân ta đầy hạnh phúc. Và như thế,
Đảng ta sẽ trường tồn mãi với Nhân dân ta, dân tộc ta và non sông, đất nước ta.

Nhận xét
Đăng nhận xét