PHÒNG VÀ CHỐNG "ÓC ĐỊA PHƯƠNG" VÀ "LỢI ÍCH NHÓM"
Óc địa phương, óc bè phái, địa phương
chủ nghĩa và tư duy nhiệm kỳ, tự diễn biến, tự chuyển hóa, lợi ích nhóm có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Để phòng
và chống, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân theo di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Óc địa
phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa để chỉ những chứng bệnh của chủ nghĩa
cá nhân được Hồ Chí Minh dùng trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (1927); “Thư gửi
các đồng chí Trung Bộ” (1947); “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” (1-3-1947) và “Sửa
đổi lối làm việc” (10-1947)... Trong đó, óc địa phương được Người nêu trong tác
phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, ở phần “Những khuyết điểm sai lầm”. Trong tác phẩm
này, sau khi nêu đích danh các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân như: tham lam,
lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc lãnh tụ, Người
viết tiếp trong mục: g) Óc địa phương và chỉ rõ: “Bệnh này tuy không xấu bằng các
bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình,
địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao
cũng mặc kệ”. Theo Người, nguyên nhân sinh ra óc địa phương, “đó là vì cận thị,
không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng lợi ích to,
ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể”.
Óc bè phái là
“ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi
che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho
là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm
người đó xuống, họ phải mấy cũng không nghe” được Hồ Chí Minh nêu trong “Thư
gửi các đồng chí Bắc Bộ”. Còn địa phương chủ nghĩa là “chỉ chăm chú lợi ích của
địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ.Làm việc ở bộ phận nào
chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những
việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch
chung. Thí dụ, muốn lấy tất cả cán bộ và vật liệu cho địa phương mình, không
bằng lòng để cấp trên điều động cán bộ và vật liệu đến những nơi cần thiết”
được Người nêu trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” và “Thư gửi các đồng chí
Trung Bộ”.
Với ý nghĩa
đó, óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa ở phạm vi nhỏ thì cản trở
sự phát triển của một hoặc vài cá nhân, cơ quan, đơn vị; ở phạm vi lớn thì ảnh
hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, khi óc bè phái, óc địa phương,
địa phương chủ nghĩa trở thành một vấn nạn, khi hiện tượng “1. Ham dùng người
bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; 2.Ham
dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; 3. Ham
dùng nhữngngười tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp
với mình”… dẫn đến “hỏng cả công việc của Đảng”, làm mất đi sự “liêm khiết,
công bình, chính trực” của các cơ quan công quyền.
Vì óc địa
phương, địa phương chủ nghĩa nên tệ nạn bè phái, ưa dùng người địa phương,
“cánh hẩu” ngày càng phát triển trong mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trong
công tác cán bộ. Từ đặt lợi ích của mình và những người mình ưa, mình thích lên
trên lợi ích tập thể, lợi ích đất nước, những người có óc địa phương, óc bè
phái, địa phương chủ nghĩa đã liên kết lại thành một nhóm, tranh giành vị trí,
quyền lực, đấu đá nhau… để mưu lợi ích cho mình và nhóm mình - lợi ích nhóm.
Lợi ích nhóm “tiêu cực” theo nghĩa đang hiểu ở đây có nội hàm là lợi ích của
một nhóm người được hình thành trên cơ sở: 1) Lợi ích cá nhân không chính đáng;
2) Trục lợi, kiếm chác, tham nhũng để làm lợi cho nhóm mình; 3) Hành động phi
pháp, coi thường pháp luật; 4) Xâm hại đến lợi ích Nhà nước và tập thể...
Hồ Chí Minh
đã dùng từ óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa để chỉ ra một bộ
phận “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có
quyền đã kéo bè, kéo cánh; ưa dùng những người bà con, thân tín cùng họ, cùng
xóm, cùng quê, cùng chung lợi ích để ủng hộ và che chắn cho nhau. Họ lợi dụng
quyền lực, dùng số đông để bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, không dùng,
thậm chí dồn những người tốt, có tài nhưng không “hẩu”, không cùng “nhóm” để cô
lập, thao túng. Những kẻ cậy quyền, ỷ thế này quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng
cán bộ theo nguyên tắc: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài
không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ
phải mấy cũng không nghe… Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”…
Không chỉ
nghiêm khắc chỉ ra sự nguy hiểm và phê phán rất nặng những chứng bệnh cá nhân
chủ nghĩa, nhân danh tổ chức, nhân danh tập thể, lợi dụng quyền lực, địa vị
được giao để trục lợi cho mình và những người thân cùng phe, cùng “cánh hẩu”
với mình “làm quan phát tài”, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: “Nếu vì lòng yêu ghét,
vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi
trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào”. Theo Người,
nguyên nhân của những người mắc bệnh óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ
nghĩa là vì lợi dụng quyền hành, trụclợi cho mình và “nhóm lợi ích”, coi thường
tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền và xa rời quần chúng… Đó
là những kẻ suy thoái đạo đức, lối sống, làm suy yếu Đảng, làm giảm lòng tin
của quần chúng với Đảng; do đó, phải kiên quyết tẩy sạch các chứng bệnh nguy
hiểm đó để xây dựng chính quyền liêm khiết, xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh.
Lợi ích nhóm
được đề cập khá rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đó là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số
cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những
biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ,
cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham
nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”; trong Văn kiện Đại hội XII của
Đảng: “Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng
chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm”. Tiếp đó, Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” cũng đã chỉ rõ các biểu hiện của lợi ích
nhóm như: “Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề
ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen,
người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc
bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích... Lợi dụng, lạm dụng chức vụ,
quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.
Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân
chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi
ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình
để trục lợi…”.
Thực tế cho
thấy, óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa và tư duy nhiệm kỳ, tự
diễn biến, tự chuyển hóa, lợi ích nhóm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là
các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ. Việc một bộ
phận cán bộ, đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để móc nối, thông
đồng với nhau, lách luật, vi phạm luật nhằm tham ô, tham nhũng; dùng của công
để biếu xén lẫn nhau, sử dụng các biện pháp để chuyển tài sản nhà nước, tập thể
sang cho cá nhân; dùng mọi thủ đoạn để tham nhũng, móc ngoặc với các đại gia,
doanh nghiệp để hợp thức hóa việc ăn cắp, tham nhũng của công; lợi dụng sự móc
ngoặc giữa các doanh nghiệp với nhau và với các quan chức để dành những gói
thầu, những khoản ưu đãi từ tiền công quỹ, chạy chức, chạy quyền và nhất là
cách mua bán, đút lót, hối lộ, thông đồng của một nhóm người để mưu cầu chức,
quyền, danh vị,v.v.. trong xã hội đã không còn là hiện tượng đơn lẻ.
Trong khi đó,
chừng nào mà các nhóm lợi ích nêu trên càng phát triển, càng mang lại lợi ích
cá nhân cho một số người thì chừng đó, càng khoét sâu sự mất công bằng trong xã
hội; càng bóp nghẹt dân chủ, nội bộ nghi kỵ lẫn nhau dẫn đến khoảng cách giàu -
nghèo trong xã hội ngày càng phân hóa. Lợi ích nhóm không chỉ là vấn nạn mà trở
thành nguy cơ lớn đe dọa sự phát triển lành mạnh, bền vững của đất nước, sự tồn
vong của quốc gia, của chế độ xã hội chủ nghĩa; là nguy cơ chính làm trầm trọng
và tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển, gây bất ổn trong xã hội nói
chung, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, địa
phương, đơn vị nói riêng. Thực trạng đó đi ngược lại với mục tiêu lý tưởng của
Đảng, của dân tộc, vì vậy, “nếu không có cơ chế ngăn chặn, lợi ích nhóm (tiêu
cực) phát triển sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa
phương, đơn vị, cơ quan; làm suy thoái, tha hóa về đạo đức, lối sống của “một
bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên (đặc biệt là những người có chức, có
quyền). Điều đó sẽ làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng,
chế độ”.
Từ những cảnh
báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để thiết thực ngăn chặn, phòng và chống các chứng
bệnh của chủ nghĩa cá nhân, nhất là lợi ích nhóm, cần tập trung thực hiện một
số giải pháp sau:
Một là, cấp ủy, chính quyền và ban, ngành
chức năng các cấp nâng cao hơn nữa trong nhận thức và hành động về yêu cầu
tấtyếu phải thực hiện nghiêm túc, trọn vẹn, thường xuyên, liên tục di huấn của
Hồ Chí Minh: cán bộ, đảng viên phải luôn “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch
chủ nghĩa cá nhân”: đặt lợi ích của tập thể, lợi ích của đất nước, lợi ích của
nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, của gia đình mình, dòng họ
mình theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”…; “phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí
của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”; phải thường xuyên thực hiện tự
phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất; mở rộng dân chủ trong sinh hoạt
Đảng và phát huy vai trò quần chúng nhân dân tham gia xây dựng Ðảng, đấu tranh
phòng, chống sự suy thoái của cán bộ, đảng viên và sự phát triển của các nhóm
lợi ích.
Hai là, gắn thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của
Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng và chỉnh
đốn Đảng. Chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và
các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng Đảng, hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh. Tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ,
đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải
luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc và nhân
dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Đồng thời, phải phát huy vai trò nêu gương, nói đi đôi với làm; phải cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, luôn học
tập để cầu tiến bộ. Thường xuyên tự phê bình và phê bình như rửa mặt hằng ngày,
để không vì danh vị mà nịnh bợ, chạy chọt, mua chuộc; không vì sang giàu mà sa
vào tham ô, tham nhũng, tha hóa đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa.
Ba là, tăng cường công tác quản lý, giao
nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản
lý, người đứng đầu từ cấp chi bộ. Thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ
và chế tài rõ ràng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu trong thực
hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao và xử lý nghiêm những người lạm quyền,
lộng quyền, tham ô, tham nhũng, v.v..để mưu lợi cho cá nhân, gia đình và nhóm
lợi ích. Đồng thời, đẩy mạnh công khai và minh bạch hóa các hoạt động của các
cơ quan công quyền gắn với công tác kiểm tra; nhất là kiểm tra chéo các hoạt
động công vụ; ngăn chặn khả năng hình thành “lợi ích nhóm” trong công tác cán
bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội
ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ”.
Bốn là, nghiêm túc trong kê khai tài chính
của cá nhân, gia đình cán bộ, công chức, bảo đảm minh bạch các nguồn thu nhập; đồng
thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong
giám sát cán bộ, đảng viên; trong việc ngăn chặn sự hình thành các nhóm lợi
ích. Thực hiện nghiêm Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa
XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ
chốt các cấp” và Quy định số 102-QĐ/TW về “Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm” của
Ban Chấp hành Trung ương khóa XII: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ
luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng
đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”, để không có vùng
cấm, không có biệt lệ, không có “thần hộ mệnh” cho bất cứ ai vi phạm pháp luật,
vi phạm Điều lệ Đảng./.
Nhận xét
Đăng nhận xét