VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
          Sự ra đời, tồn tại và phát triển nhà nước pháp quyền là một thành quả của nền văn minh nhân loại. Trong hình thức nhà nước này, mối quan hệ giữa nhà nước  (chủ thể chính trị) và người dân (những công dân) trong xã hội được giải quyết một cách thỏa đáng, nền kinh tế phát triển có hiệu quả và làm cho trật tự của xã hội ổn định, phát triển hơn so với các hình thức tổ chức nhà nước trước đó. Vì vậy, hình thức nhà nước này áp dụng khá phổ biến hiện nay trên thế giới, ở cả các nước tư bản chủ nghĩa và các nước đang phát triển lên chủ nghĩa xã hội.
          Những tư tưởng coi trọng pháp luật trong cai trị và quản lý xã hội đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại, Tuân Tử và Hàn Phi Tử (Trung Quốc) và Heraclitus, Plato, Aristotle.. (Hy Lạp) đã đề xuất những tư tưởng đó, người để lại dấu ấn rõ nét hơn cả là Hàn Phi Tử khi các tư tưởng của ông được áp dụng vào triều đại Tần Thủy Hoàng.Tây Âu thời Trung cổ, Thomas Aquinas đã có những kiến giải khá sâu sắc về nhà nước pháp quyền. Nhưng do những tư tưởng đó không vượt ra khỏi ý thức hệ tôn giáo của đạo Thiên Chúa nên nó chưa được áp dụng phổ biến trong thực tiễn. Thời kỳ cận đại, những tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã được nhận thức với tư cách là lýthuyết triết học có hệ thống ở các nước Tây Âu, như lý thuyết về “Pháp quyền tự nhiên” của Spinoza và Locke, lý thuyết về “Tam quyền thuyết phân lập”, “Khế ước xã hội”của Montesquieu và Rousseau hay lýthuyết về pháp quyền của Kant và Hegel…Tuy nhiên, do tiếp cận từ những góc độ khác nhau, đặc biệt là đứng trên việc giải quyết lợi ích khác nhau của các giai cấp mà những lýthuyết đó còn chưa có sự kiến giải một cách thống nhất về các đặc trưng cơ bản, về bản chất và mục đích…của nhà nước pháp quyền. Một nhà nước là nhà nước pháp quyền cần phải có đầy đủ các đặc trưng cơ bản sau đây:
          Thứ nhất, pháp luật được đặt ở vị trí tối thượng, nhà nước đó phải coi pháp luật là công cụ cơ bản, chủ yếu nhất, tối cao nhất, đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức, quản lýxã hội. Mọi tổ chức và thành viên trong xã hội đều đặt dưới pháp luật, chịu sự chi phối của pháp luật.
          Thứ hai, quyền lực của nhà nước đó phải thể hiện được lợi ích và ý chí của đa số nhân dân và phải vừa đảm bảo vừa tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân. Thông thường, quyền lực của nhà nướcpháp quyền được tách ra thành ba cơ quan hoạt động độc lập là cơ quanlập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quantư pháp, nhằm tránh sự độc quyền nhưng lại hỗ trợ, kiểm soát được nhau trong quá trình thực thi quyền lực.
          Thứ ba, nhà nước đó phải đảm bảo được trên thực tế mối quan hệ hữu cơ về quyền và trách nhiệm giữa nhà nước và công dân.
           Mỗi đặc trưng đó có vị trí và vai trò khác nhau, phản ánh những nội dung khác nhau trong chỉnh thể nhà nước pháp quyền, song giữa chúng có một mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, đặc trưng thứ nhất đóng vai trò quyết định, phản ánh nội dung bản chất nhất của nhà nước pháp quyền và chi phối các đặc trưng thứ hai, thứ ba. Ngược lại, đặc trưng thứ hai và thứ ba vừa thể hiện mục đích, cách thức tổ chức, xây dựng hình thức nhà nước pháp quyền vừa tác động đến sự điều chỉnh hệ thống pháp luật cho thích hợp với mục tiêu, tính chất…của nhà nước đó.Trên cơ sở nhưng đặc điểm cơ bản, có thể định nghĩa: Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước coi pháp luật là công cụ cơ bản nhất, tối cao nhất trong việc tổ chức và quản lí xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân.
          Hiện nay, nhà nước pháp quyền là hình thức nhà nước được áp dụng phổ biến để tổ chức và quản lí xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà nước pháp quyền ở các nước không hoàn toàn giống nhau do sự khác biệt về hệ tư tưởng chính trị của chủ thể nắm quyền lực, của giai cấp cầm quyền, về bản chất giai cấp, về mục tiêu cuối cùng của nhà nước đó đảm bảo, tôn trọng quyền tự do dân chủ của các công dân đến đâu, pháp luật đó đặt ra phục vụ chủ yếu cho giai cấp nào…Đó là cơ sở để phân biệt nhà nước pháp quyền tư sản với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
          Nhà nước pháp quyền tư sản là nhà nước pháp quyền trong đó hệ tư tưởng tư sản và pháp luật của giai cấp tư sản chi phối toàn bộ cách thức tổ chức, quản lí cũng như mục tiêu….của nhà nước đó. Đương nhiên, pháp luật được xây dựng trên cơ sở của loại sở hữu nào sẽ phục vụ chủ yếu cho chủ sở hữu ấy. Không có sự tự do, bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, về kinh tế thì không thể có sự bình đẳng về chính trị, pháp luật và tư tưởng, văn hóa.
          Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và pháp chế xã hội chủ nghĩa là yếu tố cơ bản chi phối toàn bộ cách thức tổ chức, quản lý cũng như mục tiêu,…hoạt động. Tư tưởng về sự giải phóng loài người khỏi sự thống trị, áp bức, bóc lột giai cấp và xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân, thiết lập chế độ sở hữu toàn dân là cơ sở nền tảng để xây dựng pháp chế vừa là mục tiêu, là cách thức tổ chức, quản lí, vừa là động lực, là sự sống còn của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
          Ở nước ta, để có thể quan niệm đúng đắn về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam như hiện nay là kết quả của quá trình nhận thức và khảo nghiệm trong thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước thời kì đổi mới, mô hình nhà nước ở nước ta vẫn là mô hình tổ chức, quản lí tập trung có kế hoạch. Đó là mô hình tổ chức, quản lí tập trung quan liêu, bao cấp, hoạt động kém hiệu quả, không giải quyết được những vấn đề gay gắt của cuộc sống, làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng. Nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp đã trở thành chướng ngại lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội cần phải được thay thế bằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện một bước cơ bản và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Đó là một đòi hỏi tất yếu của thực tiễn xã hội, của quá trình tăng cường vai trò của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc tổ chức và quản lý các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
          Trên cơ sở nghiên cứu các di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, tiếp thu những tư tưởng có giá trị về nhà nước pháp quyền trong lịch sử, tổng kết kinh nghiệm và thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt nam đã xác định đúng đắn những nội dung cơ bản về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân; được xây dựng trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam; là công cụ quyền lực chủ yếu để nhân dân ta xây dựng một quốc gia độc lập dân tộc, xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ , công bằng, văn minh, góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.

          Từ năm 1986 cho đến nay, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng đó mới chỉ là những bước khởi đầu. Nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài đang đặt ra nhiều thách thức cho toàn Đảng, toàn dân cần phải phấn đấu. Muốn thực hiện được nhiệm vụ trung tâm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu “xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” đòi hỏi phải phát huy đồng bộ vai trò của cả hệ thống chính trị. Trong đó, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vị trí, vai trò và trọng trách to lớn. Do đó, nhà nước cần phải không ngừng củng cố, phát triển và hoàn thiện để  hoàn thành được nhiệm vụ là công cụ thực thi quyền lực chính trị của nhân dân, mới thể hiện được bản chất là nhà nước của dân, do dân, vì dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhận xét