Một số vấn đề cần lưu ý về xã hội dân sự
Trong khi thừa nhận sự tồn tại khách quan và vai trò, tác dụng của các tổ chức
xã hội dân sự ở nước ta trong việc tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo
nghề nghiệp, lứa tuổi, sở thích, giới tính… nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của
người dân như học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ các mặt, giúp đỡ, động viên
nhau trong cuộc sống, tham gia sinh hoạt văn hóa, thể thao, du lịch, xã hội, từ
thiện…, cần lưu ý một số vấn đề sau:
1- Xã hội dân sự ở Việt Nam cũng như trên bình diện quốc tế là một
vấn đề còn nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thật sự có sự thống nhất từ nội hàm
của khái niệm đến bản chất, vai trò của nó.
Do
bối cảnh lịch sử và các mối quan hệ nhà nước – xã hội khác nhau, có những cách
tiếp cận và quan điểm lý luận khác nhau về xã hội dân sự. Hiện có ít nhất ba
cách tiếp cận đối với xã hội dân sự là: Thuyết tự do “mới” cho rằng xã hội dân
sự tồn tại một cách độc lập và có phần đối trọng với nhà nước, thuộc “khu vực
thứ ba”, “khu vực tự nguyện”, ở đó các công dân tự tổ chức thành nhóm và giải
quyết các vấn đề phát sinh thông qua đối thoại “dân sự” và biện pháp phi bạo
lực. Vai trò của các tổ chức này là kiểm soát và làm cân bằng mối quan hệ giữa
nhà nước và thị trường. Theo mô hình Xã hội tốt lành (Good Society), xã hội dân
sự là một bộ phận cấu thành xã hội, không hoàn toàn tách biệt với nhà nước, thị
trường và gia đình mà nằm ở khu vực giao nhau của ba bộ phận này; ranh giới của
nó cũng không rạch ròi, luôn có sự tương tác giữa nhà nước, thị trường và các
tổ chức xã hội nhằm đem lại sự đồng thuận tốt lành cho mọi người. Mô hình Hậu
hiện đại (Postmodern) xem xã hội dân sự thuộc khu vực thứ ba và đề cao vai trò
chia sẽ, thông cảm và liên kết, hợp tác giữa các bên tham gia đối thoại, thảo
luận.
Liên
quan đến phạm vi và bản chất của xã hội dân sự, còn những “điểm mờ” thường gây
tranh cãi như tiêu chí xác định các loại hình, tổ chức xã hội dân sự và ranh
giới không thật rõ ràng giữa tổ chức xã hội dân sự với tổ chức kinh tế cũng như
tổ chức nhà nước và đảng, phái chính trị.
Ở
nước ta, xã hội dân sự là vấn đề mới được một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
nhưng còn nhiều quan niệm chưa thống nhất, ngay việc sử dụng thuật ngữ “xã hội
dân sự” hay “xã hội công dân”, hai thuật ngữ này có đồng nghĩa hay không, cũng
còn có ý kiến khác nhau. Nhiều ý kiến đồng nhất nội hàm của 2 khái niệm này,
tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, trong nghĩa ban đầu của nó, xã hội dân sự đồng
nhất với xã hội công dân nhưng dần dần ý nghĩa và nội dung khái niệm xã hội dân
sự biến chuyển và tách khỏi xã hội công dân và cho đến nay thì đó là hai khái
niệm khác nhau, hai thực tiễn khác nhau, không nên nhầm lẫn.
Do
đó, khi nói đến vai trò và các giá trị của xã hội dân sự, cần phải định vị rõ
cách tiếp cận và phạm vi, tiêu chí xác định loại hình tổ chức xã hội dân sự
cũng như bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của một quốc gia
nhất định.
Theo
đó, xã hội dân sự ở nước ta bao gồm các tổ chức chính trị – xã hội – nghề
nghiệp, xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các
tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích, câu lạc bộ,…; các tổ chức dịch vụ
công và các quỹ không phải do Nhà nước lập ra, hoạt động phi lợi nhuận, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuân thủ các quy định của pháp luật và
tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước nhằm góp phần thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2-
Với tính chất là những mối quan hệ và liên kết mềm, tự quản, không thuần nhất,
bản thân xã hội dân sự có không ít những hạn chế và thách thức nhất định.
Là
các tổ chức “ngoài” Nhà nước, phi chính phủ, bao gồm các quan hệ và tổ chức
không mang dấu hiệu quyền lực công, tính thống nhất không cao nên dễ xảy ra
tình trạng các tổ chức dân sự chỉ chăm lo đến lợi ích cục bộ mà không quan tâm
đến lợi ích toàn xã hội, tạo ra các “lệ” riêng, không phù hợp với chính sách và
pháp luật của nhà nước, thậm chí có trường hợp bị biến tướng phục vụ lợi
ích của các cá nhân có điều kiện chi phối. Ví dụ: Hiệp hội của các nhà
nhập khẩu hàng hoá luôn có mong muốn và đề nghị nhà nước xem xét giảm thuế nhập
khẩu để hạ giá bán, nhưng điều đó lại mâu thuẫn với lợi ích với các doanh
nghiệp sản xuất hàng hoá trong nước. Rõ ràng là trong một số trường hợp, tính
tự chủ, tự nguyện và tự quản của các hội, tổ chức phi chính phủ có nguy cơ tạo
ra sự xung đột về lợi ích giữa các cộng đồng xã hội, cũng như tạo ra các “lệ”
riêng cản trở việc thực thi chính sách và pháp luật của nhà nước, hạn chế sự
phát triển kinh tế – xã hội.
Chính
Ngân hàng Thế giới, khi đề cao vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc
tạo ra cơ chế để người dân tham gia vào công việc của chính phủ cũng đã không
quên cảnh báo rằng “Không phải mọi tổ chức của xã hội công dân đều có tinh thần
trách nhiệm đầy đủ, hoặc là với những thành viên riêng của họ hoặc là với công
chúng nói chung. Và mặc dù một số nhóm có thể rất to mồm, những lợi ích mà họ đại
diện có thể không được phân chia một cách rộng rãi”. Và “Có một số tổ chức NGO
được tạo ra một cách cơ hội, để tiến cử những lợi ích hẹp hòi và những thành
viên có cùng đặc quyền đặc lợi, thường làm thiệt hại cho những người không có
tiếng nói và yếu thế” (Ngân hàng Thế giới: Nhà nước trong một thế giới đang
chuyển đổi. Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997. NXB. Chính trị Quốc
gia. Hà Nội.1998. tr 139 và tr 144).
Theo
Ngân hàng Phát triển Châu Á “Các tổ chức xã hội công dân cũng có thể bao gồm những
hiệp hội có động cơ bạo lực, tham lam, lợi ích cục bộ, thù địch sắc tộc, và đàn
áp xã hội, cũng như các tổ chức kinh doanh vận động hành lang như ngành công
nghiệp thuốc lá, là không thể đại diện cho lợi ích đông đảo của công chúng”
(Ngân hàng Phát triển châu Á: Phục vụ và duy trì, cải thiện hành chính công
trong một thế giới cạnh tranh.NXB. Chính trị
Quốc gia. Hà Nội.2003. tr 613). Thực tế, bên cạnh vai trò tích cực của đa số
các tổ chức xã hội dân sự, vẫn có một số tổ chức, trong những trường hợp nhất
định có xu hướng chính trị hóa, can thiệp sâu, thậm chí lũng đoạn các hoạt động
chính trị không chỉ trong nước mà cả ngoài nước, vượt quá phạm vi, giới hạn cho
phép, trái với tôn chỉ, mục đích đã được xác định khi thành lập. Một số tổ chức
xã hội dân sự hoạt động chưa thực sự đại diện cho giới, ngành nghề, nhóm, cộng
đồng dân cư… mà mình đại diện; không tuân thủ nguyên tắc phi lợi nhuận.
Ở nước ta hiện nay, một số tổ chức xã hội
hoạt động còn hình thức, kém hiệu quả, chưa đáp ứng được nguyện vọng và lợi ích
của đoàn viên, hội viên, có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự tài trợ của Nhà
nước; có xu hướng “hành chính hoá” về mặt tổ chức và hoạt động, do đó khả năng
thu hút, tập hợp hội viên bị hạn chế. Việc tham gia cung ứng dịch vụ công trong
một số trường hợp chưa được triển khai đúng với tôn chỉ và mục đích đã đăng ký,
thậm chí có trường hợp chạy theo lợi nhuận đơn thuần, hoặc lợi dụng danh nghĩa
tổ chức phi lợi nhuận để trốn thuế, gây tổn hại đối với lợi ích xã hội.
Vì
vậy, cần nhận thức khách quan, toàn diện về vai trò, tác dụng cũng như những
hạn chế, thách thức của các tổ chức xã hội dân sự đối với phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội; từ đó bổ sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý các tổ chức xã hội phù hợp với
điều kiện thực tế của đất nước.
3-
Trong khi sự hình thành xã hội dân sự tại các nước tư bản phát triển là kết quả
khách quan của quá trình phát triển xã hội, thì việc phát triển xã hội dân sự
tại nhiều quốc gia khác lại bị tác động từ bên ngoài, dưới hình thức tài trợ
“bà đỡ” của một số thế lực chính trị ở một số nước phương Tây.
Tính
không tự nhiên, bị áp đặt với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá là một
trong những nguyên nhân gây ra bất ổn tại một số quốc gia. Mục tiêu của một số
thế lực chính trị phương Tây “thúc đẩy” xã hội dân sự để phổ biến các “giá trị
phương Tây” và với ý đồ thay đổi chế độ chính trị ở một số quốc gia. Thực tế
lịch sử các sự kiện “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở
một số quốc gia gần đây cho thấy sự tham gia tích cực của một số tổ chức xã hội
dân sự có quan hệ chặt chẽ với các thế lực chính trị phương Tây.
Các
thế lực chính trị phương Tây thường viện dẫn các quy định về quyền tự do
lập hội của mỗi người trong Tuyên bố chung về nhân quyền, Công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị, Công ước châu Âu về nhân quyền và các
quyền tự do cơ bản, nhưng cố tình lờ đi các quy định về hạn chế hoạt động của
các tổ chức phi chính phủ trong chính các văn bản này. Cụ thể là, Điều 29 Tuyên
bố chung và Điều 22 Hiệp ước quốc tế, Điều 11 Công ước
châu Âu nêu trên cho phép luật pháp có thể đưa ra những hạn
chế cần thiết đối với quyền thành lập và tham gia hội “trong một xã hội dân chủ
nhằm phục vụ lợi ích an ninh quốc gia và sự bình yên trong xã hội, nhằm mục
đích ngăn ngừa tình trạng mất trật tự và tội phạm, bảo vệ sức khỏe và nhân
phẩm hay bảo vệ quyền lợi và tự do của những người khác”. Hơn nữa, Điều 16 Công
ước châu Âu còn quy định cả chuẩn mực mà theo đó, các bên tham gia Công
ước có thể đưa ra những hạn chế đối với hoạt động chính trị của người nước
ngoài trong các trường hợp liên quan đến quyền tự do lập hội.
Đối
với nước ta hiện nay, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế, ngày càng có nhiều tổ chức xã hội dân sự được thành lập và hoạt động
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có một số tổ chức là
thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các tổ chức xã hội đã có nhiều đóng
góp trong việc phát huy dân chủ, xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật và thực
hiện giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước; chủ động tham gia cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ cho hoạt động của
Chính phủ trong việc phân phối và nâng cao chất lượng dịch vụ, giải quyết việc
làm, xoá đói, giảm nghèo,… góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy
nhiên, bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động quốc tế và thù
địch luôn muốn tạo ra các lực lượng đối lập, chống đối Đảng Cộng sản ngay trong
lòng xã hội Việt Nam. Rất cần cảnh giác với xu hướng này, vì các tổ chức xã hội
dân sự kiểu này sẽ đối lập và thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, sự quản lý của Nhà nước ta. Bằng các hình thức tài trợ khác nhau cho một
số tổ chức xã hội dân sự, các thế lực thù địch nhằm mục đích chính trị là hậu
thuẫn cho các thế lực hoạt động chống phá cách mạng nước ta; lợi dụng vấn đề tự
do lập hội để tập hợp lực lượng đối trọng với Đảng, Nhà nước ta, gây sức ép và
đòi đa nguyên chính trị, đa đảng nhằm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Âm
mưu của các thế lực phản động quốc tế là hòng tạo ra các lực lượng đối lập,
chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trong lòng xã hội Việt Nam nên chúng tác
động cho ra đời những tổ chức xã hội dân sự kiểu phương Tây để từ “phản biện”
hướng đến “phản đối” và cuối cùng thành tổ chức “phản động, chống đối” Đảng
Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực chất là các thế lực phản động
phương Tây đang muốn sử dụng các tổ chức xã hội dân sự như một phương thức để
“Diễn biến hòa bình” tiến tới “Diễn biến không hòa bình” (cách mạng màu) lật đổ
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Kinh
nghiệm sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu với vai trò tập hợp lực lượng đối
lập, xây dựng “ngọn cờ” của các tổ chức xã hội dân sự đã chứng minh điều này.
Rõ
ràng không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường
“quan tâm” nhiều đến các địa bàn trọng điểm về an ninh chính trị – xã hội hoặc
đang xảy ra các sự kiện “nhạy cảm“ liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn
giáo.
Trong bối cảnh đó, một mặt phải nâng cao cảnh
giác, phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu lợi dụng vấn đề
xã hội dân sự của các thế lực thù địch, mặt khác cần tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng và quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức xã hội.
4-
Để các thể chế của xã hội dân sự có thể phát huy tốt vai trò, tác dụng của mình
đối với hội viên, thành viên và xã hội, nhất thiết phải có sự quản lý và định
hướng bằng pháp luật của Nhà nước nhằm tạo ra một môi trường dân chủ lành mạnh
cho sự phát triển hài hoà của toàn xã hội.
Nhìn
chung phần lớn các quốc gia trên thế giới, có thể theo những chuẩn mực khác
nhau, nhưng đều thực hiện việc quản lý tổ chức xã hội dân sự thông qua các quy
định khá chặt chẽ và cụ thể về việc thành lập hội, tổ chức phi chính phủ. Theo
đó, thường có một số nội dung như: điều kiện thành lập hội, tổ chức phi chính
phủ; yêu cầu tối thiểu về điều lệ; các quy định về nghiêm cấm tư lợi trực tiếp
hoặc gián tiếp; điều kiện nhận tài trợ hoặc được miễn, giảm thuế; các quy định
về gây quỹ, quảng cáo v..v… Các cơ quan hữu trách của nhà nước không can thiệp
trực tiếp, cụ thể vào việc xây dựng điều lệ hội, tổ chức phi chính phủ nhưng
thường đưa ra quy định khung chung cho nội dung điều lệ bao gồm: tên gọi, mục
đích, lĩnh vực, phạm vi hoạt động, tiêu chuẩn hội viên v.v… của các hội, tổ
chức phi chính phủ. Luật pháp về hội của các nước quy định rõ ràng và cụ thể
thẩm quyền, trách nhiệm giám sát, kiểm tra hoạt động, nhất là về phương diện
tài chính của các hiệp hội.
Ngoài
các quy định pháp luật riêng về tổ chức, hoạt động của hội, tổ chức phi chính
phủ, các hội còn chịu sự điều chỉnh của luật dân sự, luật thuế, luật hoạt động
công ích, luật sở hữu trí tuệ, luật đăng ký kinh doanh v.v.
Đối với nước ta, thể chế quản lý tổ chức và
hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự phải phù hợp và đáp ứng được cơ chế vận
hành của thể chế chính trị: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Thể chế quản lý các tổ chức xã hội kết hợp chặt chẽ giữa tự quản của các tổ
chức xã hội với quản lý của Nhà nước đối với tổ chức xã hội; phát huy tính tự
quản của tổ chức xã hội trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước nhằm khắc phục
tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa, đồng thời hạn chế tính tự phát hoặc
lợi dụng danh nghĩa tổ chức xã hội để hoạt động kinh doanh kiếm lời, thậm chí
vì mục đích chính trị, gây mất ổn định chính trị – xã hội.
CH6B - H14
Nhận xét
Đăng nhận xét