Mục đích Việt Nam xây dựng Luật An ninh mạng
Như chúng ta đã biết,
không thể phủ nhận những tiện ích mà Internet và mạng xã hội mang lại cho đời
sống con người nói riêng, nhân loại nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh đó, mỗi con
người, mỗi quốc gia, dân tộc cũng phải đối diện với những thách thức không nhỏ
và phức tạp mà Internet, mạng xã hội mang lại, nhất là trên khía cạnh thông
tin.
Bởi,
thông tin trên Internet, mạng xã hội rất khó kiểm chứng và không bị giới hạn
bởi không gian. Các thế lực thù địch, những phần tử xấu đã và đang triệt để lợi
dụng internet, mạng xã hội để xâm phạm chủ quyền biên giới điện tử quốc gia,
tán phát thông tin thất thiệt vì những mục tiêu hiểm độc, đê hèn. Những thông
tin như: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khủng bố tinh thần, đe dọa đưa lên mạng
những thông tin cá nhân, đời tư, khiến nhiều gia đình tan nát, cuộc sống bị xáo
trộn, thậm chí không ít người còn tìm đến cái chết…
Ở
Việt Nam, những cuộc gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại tài sản Nhà
nước, cản trở người thi hành công vụ xảy ra, điển hình như: Bình Thuận, Thành
phố Hồ Chí Minh… lấy lý do phản đối dự án luật về đặc khu, các thế lực thù
địch, cơ hội chính trị cả trong và ngoài nước đã thông qua Internet, mạng xã
hội để tập hợp lực lượng, chỉ đạo, điều hành những phần tử bất mãn với chế độ,
tìm cách tán phát thông tin, xuyên tạc về dự luật này để kích động người dân
xuống đường biểu tình, chống chính quyền nhân dân…Để
bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Tại Kỳ
họp thứ năm, Quốc hội khóa XIV, sau nhiều phiên thảo luận cặn kẽ, thẳng thắn,
công khai, trong đó có tiếp thu nhiều ý kiến trực tiếp và gián tiếp của cử tri
cả nước, ngày 12/6/2018, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
thông qua Luật An ninh mạng với tỷ lệ cao (86,86% đại biểu Quốc hội tán thành).
Mục
đích xây dựng Luật An ninh mạng của Nhà nước Việt Nam là nhằm: Bảo đảm lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên
không gian mạng. Luật An ninh mạng chỉ quy định các chế tài đối với việc sử
dụng không gian mạng để thực hiện hành vi chống Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi
ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đó
là những hoạt động sau:
1)
Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo,
huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
2)
Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;
3)
Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt
động kinh tế – xã hội … xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
khác;
4)
Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi
trụy, tội ác; phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc …;
5)
Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội…;
6)
Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi
ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.
Như
vậy, xét về lợi ích quốc gia, dân tộc, bao gồm cả quan hệ quốc tế, Luật An
ninh mạng không chỉ bảo vệ, bảo đảm tốt hơn độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia (trên không gian mạng) mà còn tạo điều kiện bảo đảm tốt hơn cho lợi
ích quốc gia dân tộc. Đây là điều quan trọng nhất đối với mỗi nhà nước trong
điều kiện Internet, mạng xã hội đang phát triển như vũ bão.
Trả
lời câu hỏi của phóng viên các hãng thông tấn trong và ngoài nước về vấn đề này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị
Thu Hằng nêu rõ: “Trong khi đó những nỗ lực nhằm cải thiện an
ninh trên môi trường mạng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là do thiếu thể chế
pháp lý và năng lực bảo đảm an ninh mạng. Do đó, việc xây dựng Luật An ninh
mạng là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay”.
Nhận xét
Đăng nhận xét